Công thức tính điểm trung bình môn học kỳ, cả năm và cách xếp mức Tốt, Khá, Đạt theo Thông tư 22
Điểm trung bình môn học kỳ của học sinh THCS, THPT tính bằng công thức ĐTBmhk = (Tổng điểm đánh giá thường xuyên + 2 × điểm giữa kỳ + 3 × điểm cuối kỳ) / (Số điểm đánh giá thường xuyên + 5). Điểm trung bình môn cả năm ĐTBmcn = (ĐTBmhk I + 2 × ĐTBmhk II) / 3. Ví dụ môn Toán học kỳ I có bốn điểm thường xuyên 8; 7; 9; 8, giữa kỳ 7,5 và cuối kỳ 8: tổng là 32 + 15 + 24 = 71, chia cho 4 + 5 = 9 được 7,888..., làm tròn một chữ số thập phân thành 7,9. Nếu học kỳ II được 8,5 thì cả năm là (7,9 + 2 × 8,5) / 3 = 24,9 / 3 = 8,3. Công cụ bên trên làm đúng các bước đó cho cả danh sách môn, xếp mức kết quả học tập theo Điều 9 Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT và tính ngược điểm cuối kỳ bạn cần đạt.
Tính năng nổi bật
- Tính ĐTBmhk theo đúng công thức (TĐĐGtx + 2 × ĐĐGgk + 3 × ĐĐGck) / (số ĐĐGtx + 5), hiện cả phép chia trước khi làm tròn để bạn tự kiểm
- Tính ĐTBmcn = (HK I + 2 × HK II) / 3 từ hai điểm học kỳ đã làm tròn, đúng cách nhà trường ghi vào sổ
- Danh sách môn mẫu cho THCS và THPT theo Chương trình GDPT 2018, sửa được tên môn, số tiết, hình thức đánh giá; thêm hoặc xóa môn tùy ý
- Nhắc số điểm thường xuyên cần có theo số tiết/năm của môn: 35 tiết 2 điểm, trên 35 đến 70 tiết 3 điểm, trên 70 tiết 4 điểm
- Môn đánh giá bằng nhận xét (Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp...) chọn Đạt hoặc Chưa đạt từng học kỳ
- Xếp mức kết quả học tập học kỳ I, học kỳ II, cả năm: Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt, có áp quy định điều chỉnh lên mức liền kề khi chỉ vì 1 môn mà bị hạ từ 2 mức
- Liệt kê lý do chưa lên được mức trên, ví dụ mới có 5 môn từ 8,0 hay còn 1 môn dưới 6,5
- Tính ngược điểm cuối kỳ cần đạt cho mục tiêu học kỳ hoặc cả năm, có tính đúng cách làm tròn; điểm lưu trên máy, mở lại vẫn còn
Ví dụ có lời giải: từ điểm từng bài đến mức kết quả học tập
Bạn Minh học lớp 11. Môn Ngữ văn 105 tiết/năm nên mỗi học kỳ có 4 điểm đánh giá thường xuyên. Học kỳ I, Minh có điểm thường xuyên 7; 8; 6,5; 7,5, giữa kỳ 6,5, cuối kỳ 7. Bước 1, cộng điểm thường xuyên: 7 + 8 + 6,5 + 7,5 = 29. Bước 2, nhân hệ số: giữa kỳ 6,5 × 2 = 13, cuối kỳ 7 × 3 = 21. Bước 3, cộng tử số: 29 + 13 + 21 = 63. Bước 4, mẫu số là số điểm thường xuyên cộng 5: 4 + 5 = 9. Bước 5, chia: 63 / 9 = 7,0. Vậy ĐTBmhk I môn Văn là 7,0. Học kỳ II, Minh được 8; 7,5; 8; 9, giữa kỳ 7, cuối kỳ 8,5: tử số 32,5 + 14 + 25,5 = 72, chia 9 được 8,0. Cả năm: (7,0 + 2 × 8,0) / 3 = 23 / 3 = 7,666..., làm tròn thành 7,7. Học kỳ II có hệ số 2 nên kéo điểm cả năm lên gần điểm học kỳ II hơn. Sau khi có điểm cả năm của mọi môn, mức kết quả học tập được xét bằng điều kiện chứ không bằng một điểm trung bình chung: Thông tư 22 đã bỏ cách tính điểm trung bình các môn để xếp học lực như Thông tư 58 trước đây. Giả sử Minh có 9 môn tính điểm, cả năm lần lượt 7,7; 8,3; 8,0; 8,6; 8,1; 8,4; 8,2; 7,1; 6,8, và mọi môn nhận xét đều Đạt. Mọi môn đều từ 6,5 trở lên, có 6 môn từ 8,0 trở lên (8,3; 8,0; 8,6; 8,1; 8,4; 8,2), nên Minh đạt mức Tốt. Nếu môn 6,8 kia chỉ là 6,4 thì Minh rơi xuống Khá, vì mức Tốt yêu cầu mọi môn từ 6,5.
Lợi ích khi sử dụng
- Biết ngay điểm trung bình môn mà không phải bấm máy tính từng môn
- Hiểu vì sao mình chỉ được Khá dù nhiều môn cao, nhờ danh sách lý do cụ thể
- Đặt mục tiêu cuối kỳ có con số rõ ràng thay vì đoán
- Phụ huynh kiểm lại điểm trên sổ liên lạc điện tử hoặc phần mềm của trường
- Chạy trên điện thoại, không đăng ký, điểm không rời khỏi máy
- Ghi rõ điều khoản Thông tư để đối chiếu khi cần hỏi giáo viên
Cách dùng công cụ tính điểm trung bình môn
- 1Chọn cấp học THCS hoặc THPT để nạp danh sách môn mẫu. Sửa tên môn, số tiết/năm hoặc xóa môn trường bạn không học, bấm Thêm môn cho môn lựa chọn hay chuyên đề riêng.
- 2Với môn tính điểm, gõ các điểm thường xuyên trên một dòng, cách nhau bằng dấu cách, ví dụ 8 7,5 9. Dấu phẩy là dấu thập phân.
- 3Nhập điểm giữa kỳ và cuối kỳ của từng học kỳ. Điểm trung bình học kỳ hiện ngay bên dưới kèm phép chia chưa làm tròn.
- 4Với môn chỉ đánh giá bằng nhận xét, chọn Đạt hoặc Chưa đạt cho học kỳ I và học kỳ II.
- 5Xem khung Kết quả học tập để biết mức Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt của từng học kỳ và cả năm, cùng lý do chưa lên mức trên.
- 6Ở khung Cần bao nhiêu điểm cuối kỳ, chọn môn, chọn mục tiêu cho học kỳ hay cả năm, nhập điểm muốn đạt để biết điểm cuối kỳ tối thiểu.
Cách làm tròn điểm trung bình môn: 6,45 lên 6,5, còn 6,44 xuống 6,4
Thông tư 22 quy định điểm trung bình môn học kỳ và cả năm lấy đến một chữ số thập phân sau khi làm tròn số. Làm tròn theo quy tắc thông thường: nhìn chữ số thập phân thứ hai, từ 5 trở lên thì tăng chữ số thứ nhất thêm 1, dưới 5 thì giữ nguyên. Ví dụ tổng tử số 51,6 với mẫu số 8 cho 6,45, làm tròn thành 6,5. Tổng 51,5 chia 8 được 6,4375, chữ số thứ hai là 3 nên làm tròn thành 6,4. Chênh lệch nhỏ này quyết định nhiều chuyện: 6,4 và 6,5 là ranh giới giữa mức Khá và mức Tốt, 4,9 và 5,0 là ranh giới phải kiểm tra lại trong hè. Điểm cả năm được tính từ hai điểm học kỳ đã làm tròn, không phải từ các điểm thành phần gốc. Học kỳ I 6,3, học kỳ II 6,6 thì cả năm là (6,3 + 13,2) / 3 = 19,5 / 3 = 6,5 tròn. Các phép chia cho 3 của điểm cả năm không bao giờ rơi đúng vào trường hợp lẻ 0,05, nên chỉ có phép chia của điểm học kỳ mới gặp ca ranh giới như 6,45. Máy tính để bàn và bảng tính đôi khi lưu 6,45 thành 6,4499999 do cách biểu diễn số thực, rồi làm tròn sai thành 6,4; công cụ này đã xử lý lỗi đó.
Số điểm đánh giá thường xuyên mỗi học kỳ theo số tiết
Điểm b khoản 2 Điều 6 Thông tư 22 quy định số điểm đánh giá thường xuyên (ĐĐGtx) của môn đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số trong mỗi học kỳ theo số tiết của môn trong cả năm học. Môn có 35 tiết/năm học lấy 2 điểm. Môn trên 35 tiết đến 70 tiết lấy 3 điểm. Môn trên 70 tiết lấy 4 điểm. Theo Chương trình GDPT 2018, ở THCS các môn Ngữ văn, Toán, Khoa học tự nhiên 140 tiết, Ngoại ngữ 1 và Lịch sử và Địa lí 105 tiết nên mỗi môn có 4 điểm thường xuyên; Giáo dục công dân, Tin học 35 tiết có 2 điểm; Công nghệ có số tiết khác nhau giữa các lớp (35 tiết thì 2 điểm, trên 35 tiết thì 3 điểm). Ở THPT, Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ 1 có 105 tiết, 4 điểm; các môn lựa chọn như Vật lí, Hóa học, Sinh học, Địa lí, Tin học 70 tiết, 3 điểm; Lịch sử 52 tiết, 3 điểm; Giáo dục quốc phòng và an ninh 35 tiết, 2 điểm. Ở THPT, mỗi cụm chuyên đề học tập của môn được kiểm tra một lần và kết quả tính như một điểm thường xuyên của môn đó, nên số điểm thường xuyên của môn có chuyên đề có thể nhiều hơn mức tối thiểu. Đây là số điểm giáo viên chọn để ghi vào sổ, không phải số lần kiểm tra trên lớp. Số tiết thực tế phụ thuộc kế hoạch giáo dục của trường, nên công cụ cho bạn sửa số tiết từng môn.
Điều kiện từng mức kết quả học tập Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt
Khoản 2 Điều 9 Thông tư 22 xếp kết quả học tập của học kỳ và cả năm theo bốn mức, xét bằng ĐTBmhk (học kỳ) hoặc ĐTBmcn (cả năm) của từng môn. Mức Tốt: tất cả môn đánh giá bằng nhận xét được đánh giá Đạt; tất cả môn đánh giá bằng nhận xét kết hợp điểm số có điểm trung bình từ 6,5 trở lên, trong đó ít nhất 6 môn từ 8,0 trở lên. Mức Khá: tất cả môn nhận xét Đạt; tất cả môn tính điểm từ 5,0 trở lên, trong đó ít nhất 6 môn từ 6,5 trở lên. Mức Đạt: nhiều nhất 1 môn nhận xét Chưa đạt; ít nhất 6 môn tính điểm từ 5,0 trở lên; không có môn nào dưới 3,5. Mức Chưa đạt: các trường hợp còn lại. Như vậy không còn chuyện Toán hoặc Văn phải đạt ngưỡng riêng như quy định cũ, cũng không còn điểm trung bình chung các môn. Một học sinh có 8 môn đều 9,0 nhưng 1 môn 6,4 vẫn không đạt Tốt; ngược lại học sinh có đúng 6 môn 8,0 và 3 môn 6,5 thì đạt Tốt. Danh hiệu cuối năm dựa trên cả kết quả rèn luyện: học sinh Xuất sắc cần rèn luyện Tốt, học tập Tốt và có ít nhất 6 môn từ 9,0; học sinh Giỏi cần rèn luyện Tốt và học tập Tốt.
Quy định điều chỉnh lên mức liền kề khi chỉ vì 1 môn
Khoản 3 Điều 9 quy định: nếu mức kết quả học tập của học kỳ, cả năm học bị thấp xuống từ 2 mức trở lên so với mức Tốt hoặc Khá chỉ do kết quả của 1 môn học thì được điều chỉnh lên mức liền kề. Ví dụ bạn có 8 môn từ 8,0 trở lên nhưng môn thứ 9 chỉ được 4,5. Nếu không có môn đó, bạn đạt Tốt; vì môn đó dưới 5,0 nên không đạt Khá, chỉ đạt Đạt. Bị hạ 2 mức chỉ vì 1 môn nên được điều chỉnh lên Khá. Nếu môn đó là 3,0 thì bạn rơi xuống Chưa đạt (có môn dưới 3,5), hạ 3 mức so với Tốt, được điều chỉnh lên Đạt. Trường hợp môn nhận xét Chưa đạt cũng tương tự: mọi môn tính điểm đều cao nhưng Giáo dục thể chất Chưa đạt thì theo điều kiện chỉ là Đạt, hạ 2 mức so với Tốt, được điều chỉnh lên Khá. Điều chỉnh chỉ lên một mức liền kề, không phục hồi về mức ban đầu, và không áp dụng khi bị hạ đúng 1 mức (Tốt xuống Khá) hay khi có từ 2 môn kéo xuống. Công cụ kiểm điều kiện này bằng cách lần lượt giả định từng môn đạt tối đa rồi xếp lại; nếu chỉ một môn đủ để đưa bạn lên Tốt hoặc Khá và mức thật thấp hơn từ 2 bậc thì điều chỉnh. Đây là cách hiểu phổ biến của các trường; nếu thấy kết quả khác sổ điểm, hãy hỏi giáo viên chủ nhiệm.
Môn đánh giá bằng nhận xét: khi nào Đạt, khi nào Chưa đạt
Các môn chỉ đánh giá bằng nhận xét gồm Giáo dục thể chất, Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật), Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp và Nội dung giáo dục của địa phương. Mỗi học kỳ các môn này có 2 lần đánh giá thường xuyên, 1 lần giữa kỳ và 1 lần cuối kỳ, mỗi lần ghi Đạt hoặc Chưa đạt. Trong một học kỳ, môn được đánh giá Đạt khi có đủ số lần kiểm tra, đánh giá theo quy định và tất cả các lần đều Đạt; còn lại là Chưa đạt. Cả năm học, kết quả của môn nhận xét lấy theo học kỳ II: học kỳ II Đạt thì cả năm Đạt. Nghĩa là một học sinh Chưa đạt môn Giáo dục thể chất ở học kỳ I nhưng học kỳ II Đạt thì cả năm vẫn Đạt môn này. Môn nhận xét không có điểm, nên không kéo điểm trung bình của ai xuống, nhưng ảnh hưởng thẳng tới mức: chỉ cần 1 môn nhận xét Chưa đạt là mất mức Tốt và Khá, 2 môn Chưa đạt là Chưa đạt cả học kỳ. Trường hợp học sinh được miễn học Giáo dục thể chất vì sức khỏe hoặc khuyết tật, cách ghi kết quả theo quy định riêng và hướng dẫn của nhà trường; công cụ không xử lý trường hợp này.
Tính ngược điểm cuối kỳ cần đạt: ví dụ và giới hạn
Muốn biết cuối kỳ cần bao nhiêu, đặt mục tiêu vào công thức rồi giải ra điểm cuối kỳ. Ví dụ môn Vật lí 70 tiết, 3 điểm thường xuyên 7; 8; 6, giữa kỳ 7, bạn muốn trung bình học kỳ đạt 8,0. Mẫu số là 3 + 5 = 8. Vì 7,95 đã làm tròn được thành 8,0, cần (21 + 14 + 3 × CK) / 8 ≥ 7,95, tức 3 × CK ≥ 63,6 − 35 = 28,6, CK ≥ 9,53. Điểm bài kiểm tra lấy đến một chữ số thập phân, nên bạn cần ít nhất 9,6. Thử lại: (35 + 28,8) / 8 = 7,975, làm tròn 8,0; còn nếu được 9,5 thì (35 + 28,5) / 8 = 7,9375, chỉ là 7,9. Với mục tiêu cả năm, công cụ tìm điểm học kỳ II tối thiểu trước (ví dụ học kỳ I 6,0 muốn cả năm 6,5 thì học kỳ II cần 6,7), rồi từ điểm thường xuyên và giữa kỳ II đã có tính tiếp điểm cuối kỳ II. Khi kể cả 10 điểm cuối kỳ vẫn không đủ, công cụ báo thẳng là không thể; khi bạn đã chắc chắn đạt dù cuối kỳ 0 điểm, công cụ cũng báo. Lưu ý điểm cuối kỳ có hệ số 3 trên tổng hệ số chỉ từ 7 đến 9, nên một bài cuối kỳ thường gánh khoảng một phần ba điểm học kỳ.
Tiểu học không tính điểm trung bình môn
Học sinh lớp 1 đến lớp 5 được đánh giá theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, không theo Thông tư 22. Ở tiểu học, mỗi môn học được đánh giá theo mức Hoàn thành tốt, Hoàn thành hoặc Chưa hoàn thành, và các môn có bài kiểm tra định kỳ (như Tiếng Việt, Toán) có điểm số của bài kiểm tra cuối kỳ, nhưng không có công thức điểm trung bình môn hay điểm trung bình các môn. Vì vậy công cụ này không dùng cho học sinh tiểu học; phụ huynh có con học tiểu học nên xem phần nhận xét và mức đánh giá trong học bạ. Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi cả Thông tư 27/2020 và Thông tư 22/2021, có hiệu lực từ 01/12/2026, chủ yếu về học bạ số, kiểm tra định kỳ trên máy tính, đề kiểm tra chung lớp 5, 9, 12, học sinh khuyết tật và đánh giá lại trong kỳ nghỉ hè; theo các nội dung đã công bố, văn bản này không sửa công thức điểm trung bình và các mức ở Điều 9 Thông tư 22.
Căn cứ pháp lý và lộ trình áp dụng
Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông, ban hành ngày 20/7/2021, có hiệu lực từ 05/9/2021, thay thế Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT. Thông tư áp dụng theo lộ trình: lớp 6 từ năm học 2021-2022; lớp 7 và lớp 10 từ năm học 2022-2023; lớp 8 và lớp 11 từ năm học 2023-2024; lớp 9 và lớp 12 từ năm học 2024-2025. Từ năm học 2024-2025, mọi khối lớp THCS và THPT đều đánh giá theo Thông tư 22. Văn bản sửa đổi gần nhất là Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT ngày 16/10/2026, hiệu lực 01/12/2026, sửa một số điều của Thông tư 22 về kiểm tra định kỳ trên máy tính, đề kiểm tra định kỳ chung của sở cho lớp 9 và lớp 12, học bạ số, đánh giá học sinh khuyết tật, đánh giá lại kết quả rèn luyện và học tập trong kỳ nghỉ hè; theo các nội dung đã công bố, Điều 9 về điểm trung bình môn và các mức không thay đổi. Công cụ được rà soát theo các văn bản trên ngày 04/11/2026. Kết quả trong công cụ chỉ để tham khảo; kết quả chính thức là kết quả trong học bạ do giáo viên và nhà trường ghi.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Công thức tính điểm trung bình môn học kỳ theo Thông tư 22 là gì?
ĐTBmhk = (Tổng điểm đánh giá thường xuyên + 2 × điểm giữa kỳ + 3 × điểm cuối kỳ) / (Số điểm đánh giá thường xuyên + 5). Ví dụ 3 điểm thường xuyên 7; 8; 9, giữa kỳ 8, cuối kỳ 9: (24 + 16 + 27) / 8 = 8,375, làm tròn 8,4.
Điểm trung bình môn cả năm tính thế nào?
ĐTBmcn = (ĐTBmhk I + 2 × ĐTBmhk II) / 3. Học kỳ II nhân đôi. Ví dụ học kỳ I 6,4, học kỳ II 7,3 thì cả năm (6,4 + 14,6) / 3 = 7,0.
Điểm trung bình môn làm tròn mấy chữ số?
Một chữ số thập phân, làm tròn số thông thường. 6,45 thành 6,5; 6,4375 thành 6,4. Điểm cả năm tính từ hai điểm học kỳ đã làm tròn.
Điểm giữa kỳ hệ số mấy, cuối kỳ hệ số mấy?
Mỗi điểm thường xuyên hệ số 1, điểm giữa kỳ hệ số 2, điểm cuối kỳ hệ số 3. Vì vậy mẫu số là số điểm thường xuyên cộng 5 (2 + 3).
Một học kỳ có bao nhiêu điểm thường xuyên?
Theo Điều 6 Thông tư 22: môn 35 tiết/năm có 2 điểm, trên 35 đến 70 tiết có 3 điểm, trên 70 tiết có 4 điểm. Ví dụ Toán THPT 105 tiết có 4 điểm, Vật lí 70 tiết có 3 điểm.
Học sinh đạt mức Tốt cần điều kiện gì?
Tất cả môn nhận xét đều Đạt, tất cả môn tính điểm có điểm trung bình từ 6,5 trở lên và ít nhất 6 môn từ 8,0 trở lên.
Mức Khá cần bao nhiêu điểm?
Tất cả môn nhận xét đều Đạt, tất cả môn tính điểm từ 5,0 trở lên và ít nhất 6 môn từ 6,5 trở lên.
Có 1 môn dưới 5 thì có được Khá không?
Theo điều kiện thì không, vì mức Khá yêu cầu mọi môn từ 5,0. Nhưng nếu không có môn đó bạn đạt Tốt, và môn đó vẫn từ 3,5 trở lên, thì bạn bị hạ 2 mức chỉ vì 1 môn nên được điều chỉnh lên Khá theo khoản 3 Điều 9.
Một môn dưới 3,5 có bị Chưa đạt không?
Theo điều kiện là Chưa đạt, vì mức Đạt không cho phép môn nào dưới 3,5. Nếu các môn khác đủ Tốt hoặc Khá thì được điều chỉnh lên Đạt, vì bị hạ từ 2 mức trở lên chỉ do 1 môn.
Thông tư 22 còn tính điểm trung bình các môn (điểm tổng kết) không?
Không. Thông tư 22 xếp mức bằng điều kiện trên từng môn, không có điểm trung bình chung các môn như Thông tư 58 trước đây. Nhiều trường hay phần mềm vẫn hiện điểm trung bình chung để tham khảo, nhưng nó không dùng để xếp mức.
Môn Giáo dục thể chất Chưa đạt thì ảnh hưởng thế nào?
Một môn nhận xét Chưa đạt làm mất mức Tốt và Khá, cao nhất là Đạt (nếu các môn tính điểm đủ điều kiện mức Đạt). Nếu các môn tính điểm đủ Tốt thì được điều chỉnh lên Khá. Hai môn nhận xét Chưa đạt thì Chưa đạt.
Môn nhận xét cả năm lấy theo học kỳ nào?
Theo học kỳ II. Học kỳ II Đạt thì cả năm Đạt, kể cả khi học kỳ I Chưa đạt.
Muốn trung bình môn đạt 8,0 thì cuối kỳ cần bao nhiêu?
Tùy điểm thường xuyên và giữa kỳ đã có. Ví dụ điểm thường xuyên 7; 8; 6, giữa kỳ 7 thì cuối kỳ cần ít nhất 9,6. Nhập điểm của bạn vào khung tính ngược để có con số chính xác.
Học kỳ I thấp thì học kỳ II cần bao nhiêu để cả năm đạt mục tiêu?
Giải (HK I + 2 × HK II) / 3 ≥ mục tiêu trừ 0,05. Ví dụ học kỳ I 6,0 muốn cả năm 6,5 thì học kỳ II cần ít nhất 6,7. Học kỳ I 3,0 thì kể cả học kỳ II 10 điểm cả năm chỉ được 7,7.
Học sinh tiểu học dùng công cụ này được không?
Không. Tiểu học đánh giá theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT bằng các mức Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành, không tính điểm trung bình môn.
Thông tư 89/2026 có thay đổi cách tính điểm trung bình môn không?
Không. Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT (hiệu lực 01/12/2026) sửa các nội dung như học bạ số, kiểm tra trên máy tính, đề kiểm tra chung lớp 9 và 12, đánh giá lại trong hè; theo các nội dung đã công bố, không sửa Điều 9 Thông tư 22 về điểm trung bình môn và các mức.
Vắng bài kiểm tra thì tính điểm thế nào?
Học sinh vắng có lý do được kiểm tra bù. Nếu không kiểm tra bù thì lần đó được tính 0 điểm (môn tính điểm) hoặc Chưa đạt (môn nhận xét). Khi nhập vào công cụ, hãy nhập 0 cho lần đó.
Điểm cả năm dưới 5,0 thì có phải thi lại không?
Học sinh có kết quả rèn luyện cả năm từ mức Đạt trở lên nhưng kết quả học tập Chưa đạt được kiểm tra, đánh giá lại các môn có điểm cả năm dưới 5,0 (hoặc môn nhận xét Chưa đạt) trong kỳ nghỉ hè. Kết quả đánh giá lại thay cho kết quả cả năm của môn đó để xét lên lớp.
Từ khóa liên quan
- tính điểm trung bình môn
- cách tính điểm trung bình môn
- cách tính điểm trung bình môn học kì
- cách tính điểm trung bình môn cả năm
- công thức tính điểm trung bình môn
- tính điểm trung bình môn thông tư 22
- cách tính điểm trung bình môn thcs
- cách tính điểm trung bình môn thpt
- tính điểm trung bình học kì 1
- tính điểm trung bình học kì 2
- xếp loại học lực thông tư 22
- cách xếp loại học lực
- điều kiện học sinh giỏi thông tư 22
- kết quả học tập mức tốt khá đạt
- cách tính điểm tổng kết
- tính điểm tổng kết cả năm
- điểm trung bình môn làm tròn
- cần bao nhiêu điểm cuối kỳ
- tính điểm cuối kì cần đạt
- hệ số điểm giữa kì cuối kì
- số điểm thường xuyên
- cách tính điểm trung bình môn lớp 10
- cách tính điểm trung bình môn lớp 6
- cách tính học lực cấp 2
- cách tính học lực cấp 3