Tính khoản vay trả góp đều: số tiền hàng tháng, tổng lãi và lịch trả nợ từng kỳ
Công cụ tính khoản vay theo phương thức trả góp đều trên dư nợ giảm dần, cho ra số tiền phải trả mỗi tháng, tổng số tiền phải trả, tổng tiền lãi và bảng lịch trả nợ tách riêng phần gốc, phần lãi và dư nợ còn lại của từng kỳ. Nhập số tiền vay theo đồng, lãi suất theo phần trăm mỗi năm và thời hạn theo tháng hoặc năm.
Tính năng nổi bật
- Tính số tiền trả góp cố định hằng tháng theo công thức niên kim trên dư nợ giảm dần
- Hiện tổng số tiền phải trả và tổng tiền lãi trong suốt thời hạn vay
- Bảng lịch trả nợ tách riêng tiền gốc, tiền lãi và dư nợ còn lại của từng kỳ
- Nhập thời hạn theo tháng hoặc theo năm, công cụ tự quy về số kỳ trả
- Lãi suất nhập theo phần trăm mỗi năm, nhận cả số thập phân với bước 0,1
- Số tiền hiển thị theo định dạng Việt Nam có dấu chấm ngăn cách hàng nghìn
- Bảng lịch hiển thị 24 kỳ đầu và ghi rõ tổng số kỳ khi khoản vay dài hơn
- Tính ngay trên trình duyệt, thông tin khoản vay của bạn không được gửi đi đâu
Con số quan trọng nhất không phải lãi suất mà là số tiền trả mỗi tháng
Khi nhân viên tư vấn báo lãi suất, con số đó chưa nói lên bạn có gánh nổi khoản vay hay không. Thứ quyết định là số tiền phải trả hằng tháng so với thu nhập thực nhận của gia đình bạn, và thứ hai là tổng tiền lãi bạn sẽ trả trong cả thời hạn. Hai con số này thay đổi rất mạnh theo thời hạn vay theo cách nhiều người không lường trước: kéo dài thời hạn làm khoản trả hằng tháng nhẹ đi trông thấy nhưng lại đẩy tổng lãi lên rất cao. Vay 500 triệu trong 20 năm với lãi suất 8 phần trăm mỗi năm cho khoản trả khoảng 4,18 triệu mỗi tháng, nghe vừa sức, nhưng tổng tiền lãi lên tới khoảng 504 triệu, tức nhiều hơn cả số tiền bạn vay. Tính trước những con số đó trước khi ngồi vào bàn ký hợp đồng là cách duy nhất để bạn thương lượng có cơ sở thay vì gật đầu theo cảm giác.
Lợi ích khi sử dụng
- Biết trước số tiền phải xoay mỗi tháng trước khi cam kết vay
- So sánh nhanh nhiều phương án thời hạn để thấy cái giá thật của việc kéo dài
- Nhìn thấy tỷ lệ lãi trên gốc ở những kỳ đầu, thông tin quyết định khi tính trả nợ trước hạn
- Đối chiếu với bảng tính mà ngân hàng đưa để phát hiện chỗ chưa khớp và hỏi lại
- Thông tin tài chính cá nhân không rời khỏi máy vì không có bước gửi dữ liệu
Cách tính một khoản vay
- 1Nhập số tiền vay theo đơn vị đồng, gõ đủ số 0 chứ không viết tắt kiểu 500 triệu.
- 2Nhập lãi suất theo phần trăm mỗi năm, ví dụ gõ 8 nếu hợp đồng ghi 8 phần trăm một năm.
- 3Nhập thời hạn rồi chọn đơn vị là tháng hoặc năm ở ô bên cạnh.
- 4Bấm tính toán và đọc ba con số chính: trả góp hằng tháng, tổng tiền trả và tổng lãi.
- 5Kéo bảng lịch trả nợ để xem tỷ lệ gốc và lãi thay đổi qua từng kỳ, đây là chỗ cho bạn thấy rõ nhất bản chất khoản vay.
Công thức công cụ đang dùng và ý nghĩa của nó
Công cụ áp dụng công thức niên kim cho khoản vay trả góp đều trên dư nợ giảm dần. Lãi suất tháng bằng lãi suất năm chia 12. Số tiền trả mỗi kỳ bằng gốc nhân lãi suất tháng nhân lũy thừa bậc n của một cộng lãi suất tháng, tất cả chia cho lũy thừa đó trừ đi một, với n là số kỳ. Kết quả là một con số cố định suốt thời hạn vay, nhưng cơ cấu bên trong thì đổi liên tục: mỗi kỳ, tiền lãi bằng dư nợ đầu kỳ nhân lãi suất tháng, phần còn lại của khoản trả mới là tiền gốc, và dư nợ giảm đi đúng phần gốc đó. Lấy ví dụ khoản vay 500 triệu, lãi 8 phần trăm mỗi năm, 20 năm tức 240 kỳ. Khoản trả hằng tháng khoảng 4,18 triệu. Ở kỳ đầu tiên, tiền lãi là 500 triệu nhân 0,08 chia 12 tức khoảng 3,33 triệu, nên chỉ khoảng 849 nghìn là trả vào gốc, tương đương một phần năm khoản trả. Càng về sau tỷ lệ đảo chiều dần, tới những kỳ cuối thì gần như toàn bộ khoản trả là gốc. Đây chính là lý do trả nợ trước hạn ở năm thứ mười lăm không tiết kiệm được nhiều như bạn tưởng, còn trả trước ở năm thứ ba thì tiết kiệm rất đáng kể.
Ba cách tính lãi phổ biến ở Việt Nam và công cụ này tính cách nào
Cần phân biệt rõ vì cùng một con số lãi suất mà ba cách tính cho số tiền khác nhau rất xa. Cách thứ nhất là dư nợ giảm dần với khoản trả đều mỗi tháng, chính là cách công cụ này tính. Cách thứ hai là dư nợ giảm dần với gốc chia đều: mỗi tháng bạn trả cùng một số tiền gốc bằng tổng gốc chia số kỳ, cộng thêm lãi tính trên dư nợ còn lại, nên khoản trả cao nhất ở kỳ đầu rồi giảm dần đều. Đây là cách nhiều ngân hàng trong nước áp dụng cho vay mua nhà và vay kinh doanh, và tổng lãi của cách này thấp hơn cách thứ nhất một chút vì gốc được trả nhanh hơn ở giai đoạn đầu. Cách thứ ba là lãi phẳng tính trên dư nợ gốc ban đầu, thường gặp ở vay tiêu dùng, vay mua xe máy và trả góp thẻ tín dụng: tiền lãi mỗi tháng luôn bằng gốc ban đầu nhân lãi suất, bất kể bạn đã trả bao nhiêu. Công cụ này không tính hai cách sau, nên nếu hợp đồng của bạn ghi lãi phẳng thì con số ở đây sẽ không khớp, và bạn cần đọc kỹ mục tiếp theo.
Lãi phẳng: vì sao 0,7 phần trăm mỗi tháng không rẻ như nghe
Đây là chỗ khiến nhiều người vay tiêu dùng bất ngờ. Với lãi phẳng, tiền lãi mỗi kỳ được tính trên toàn bộ số tiền vay ban đầu chứ không tính trên dư nợ còn lại, dù bạn đã trả gần hết. Lấy ví dụ vay 100 triệu trong 12 tháng với lãi phẳng 1 phần trăm mỗi tháng, tức 12 phần trăm mỗi năm. Tổng lãi là 100 triệu nhân 12 phần trăm bằng 12 triệu, khoản trả mỗi tháng là 112 triệu chia 12 bằng khoảng 9,33 triệu. Nghe thì 12 phần trăm một năm có vẻ bình thường, nhưng thực tế bạn chỉ dùng đủ 100 triệu trong tháng đầu, tới tháng cuối dư nợ chỉ còn hơn 8 triệu mà vẫn trả lãi như lúc vay đủ. Quy về lãi suất thực trên dư nợ giảm dần, con số xấp xỉ bằng lãi phẳng nhân hai lần số kỳ chia cho số kỳ cộng một; với 12 kỳ, hệ số này là khoảng 1,85, nên 12 phần trăm lãi phẳng tương đương khoảng 22 phần trăm mỗi năm trên dư nợ giảm dần. Khi so hai lời chào vay, việc đầu tiên phải làm là hỏi rõ lãi tính trên dư nợ giảm dần hay trên gốc ban đầu; không có câu trả lời đó thì mọi so sánh đều vô nghĩa.
Lãi suất ưu đãi và lãi suất thả nổi sau đó
Công cụ giả định một mức lãi suất cố định suốt thời hạn, còn hợp đồng vay mua nhà ở Việt Nam gần như luôn có hai giai đoạn. Giai đoạn ưu đãi thường kéo dài từ 6 tháng tới 24 tháng với mức thấp hơn hẳn, đây là con số được quảng cáo to nhất. Hết giai đoạn đó, lãi suất chuyển sang thả nổi và thường được xác định bằng một lãi suất cơ sở của ngân hàng cộng thêm một biên độ ghi trong hợp đồng. Vì vậy điều quan trọng nhất khi đọc hợp đồng không phải mức ưu đãi mà là hai thứ: lãi suất cơ sở được định nghĩa thế nào và biên độ cộng thêm là bao nhiêu. Cách dùng công cụ cho tình huống này là chạy hai lần: một lần với mức ưu đãi để biết gánh nặng giai đoạn đầu, một lần với mức thả nổi ước tính để biết gánh nặng phần còn lại, và bạn nên lấy con số thứ hai làm căn cứ quyết định. Một phép thử an toàn nữa là chạy thêm một lần với lãi suất cao hơn ước tính khoảng 2 điểm phần trăm, xem khoản trả khi đó có còn nằm trong khả năng của bạn hay không; nếu không thì khoản vay đang quá sức.
Những chi phí công cụ chưa tính và cách kiểm tra khả năng trả nợ
Con số công cụ đưa ra chỉ gồm gốc và lãi. Trong thực tế, tổng chi phí một khoản vay còn có phí thẩm định hồ sơ, phí định giá tài sản bảo đảm, phí công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, bảo hiểm khoản vay hoặc bảo hiểm tài sản mà nhiều ngân hàng yêu cầu, và phí trả nợ trước hạn nếu bạn tất toán sớm. Khoản phí cuối này đáng chú ý nhất vì nó thường được tính theo phần trăm số tiền trả trước và giảm dần theo số năm đã vay, mức cụ thể ghi trong hợp đồng nên phải hỏi trước khi ký chứ đừng đợi tới lúc muốn tất toán. Về khả năng trả nợ, một mốc tham khảo được nhiều người dùng là tổng các khoản trả nợ hằng tháng không nên vượt quá khoảng 35 tới 40 phần trăm thu nhập thực nhận của gia đình, và với gia đình có con nhỏ hoặc thu nhập không ổn định thì nên giữ ở mức thấp hơn. Ngoài ra hãy tính tới quỹ dự phòng: nên có sẵn khoản tiết kiệm đủ trả nợ từ ba tới sáu tháng, vì rủi ro lớn nhất của một khoản vay dài hạn không phải lãi suất mà là một giai đoạn thu nhập gián đoạn.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Công cụ tính theo phương thức nào?
Trả góp đều trên dư nợ giảm dần, còn gọi là phương thức niên kim: số tiền trả mỗi tháng cố định, nhưng bên trong thì phần lãi giảm dần và phần gốc tăng dần. Nếu hợp đồng của bạn dùng cách gốc chia đều hoặc lãi phẳng thì con số ở đây sẽ không khớp.
Lãi trên dư nợ giảm dần và lãi phẳng khác nhau thế nào?
Dư nợ giảm dần tính lãi trên số tiền bạn còn nợ, nên tiền lãi giảm dần theo thời gian. Lãi phẳng tính lãi trên toàn bộ số tiền vay ban đầu suốt thời hạn, dù bạn đã trả gần hết. Cùng một con số phần trăm, lãi phẳng đắt hơn khoảng 1,8 tới 1,9 lần với khoản vay 12 kỳ.
Quy đổi lãi phẳng sang lãi thực thế nào?
Có thể ước lượng bằng cách lấy lãi phẳng nhân với hai lần số kỳ rồi chia cho số kỳ cộng một. Với khoản vay 12 kỳ, hệ số là khoảng 1,85, nên lãi phẳng 12 phần trăm mỗi năm tương đương khoảng 22 phần trăm mỗi năm trên dư nợ giảm dần.
Vì sao những kỳ đầu tôi trả gần như toàn tiền lãi?
Vì tiền lãi mỗi kỳ được tính trên dư nợ đầu kỳ, mà đầu kỳ đầu tiên dư nợ đúng bằng toàn bộ số vay. Với khoản 500 triệu lãi 8 phần trăm mỗi năm trong 20 năm, kỳ đầu có khoảng 3,33 triệu là lãi và chỉ khoảng 849 nghìn vào gốc trong tổng khoản trả 4,18 triệu.
Vay thời hạn dài hơn có lợi không?
Chỉ lợi về dòng tiền hằng tháng, còn tổng lãi tăng rất mạnh. Kéo dài thời hạn làm khoản trả nhẹ đi trông thấy nhưng bạn trả lãi trên dư nợ trong nhiều năm hơn. Hãy chạy thử hai ba phương án thời hạn trong công cụ và so cột tổng lãi trước khi quyết định.
Khoản trả hằng tháng nên chiếm bao nhiêu phần trăm thu nhập?
Mốc tham khảo được nhiều người dùng là tổng các khoản trả nợ không vượt quá khoảng 35 tới 40 phần trăm thu nhập thực nhận của cả gia đình. Với gia đình có con nhỏ hoặc thu nhập không ổn định thì nên giữ thấp hơn, và nên có sẵn khoản tiết kiệm đủ trả nợ từ ba tới sáu tháng.
Lãi suất ưu đãi hết hạn thì tính lại thế nào?
Sau giai đoạn ưu đãi, lãi suất thường chuyển sang thả nổi theo một lãi suất cơ sở của ngân hàng cộng biên độ ghi trong hợp đồng. Hãy chạy công cụ hai lần, một lần với mức ưu đãi và một lần với mức thả nổi ước tính, rồi lấy con số thứ hai làm căn cứ quyết định.
Trả nợ trước hạn có tiết kiệm được nhiều không?
Càng trả sớm càng tiết kiệm nhiều, vì ở giai đoạn đầu phần lớn khoản trả là lãi tính trên dư nợ lớn. Nhưng phải trừ đi phí trả nợ trước hạn, thường tính theo phần trăm số tiền trả trước và giảm dần theo số năm đã vay. Mức cụ thể ghi trong hợp đồng nên hỏi rõ trước khi ký.
Vì sao kết quả của tôi lệch với bảng ngân hàng đưa?
Thường do bốn nguyên nhân: ngân hàng dùng cách gốc chia đều thay vì trả góp đều, hợp đồng có giai đoạn lãi ưu đãi rồi thả nổi, bảng của ngân hàng đã cộng thêm phí và bảo hiểm, hoặc cách tính số ngày thực tế trong tháng khác với cách chia đều mười hai kỳ mà công cụ dùng.
Bảng lịch trả nợ chỉ hiện 24 kỳ, xem tiếp thế nào?
Công cụ hiển thị 24 kỳ đầu và ghi rõ tổng số kỳ ở cuối bảng để bạn biết khoản vay dài bao nhiêu. Muốn xem đầy đủ, bạn có thể tính lại với thời hạn ngắn hơn để đối chiếu, hoặc dựng bảng đầy đủ trong bảng tính bằng chính công thức được nêu ở phần trên.
Công cụ đã tính các loại phí chưa?
Chưa. Kết quả chỉ gồm gốc và lãi. Chưa có phí thẩm định hồ sơ, phí định giá tài sản, phí công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, bảo hiểm khoản vay, cũng như phí trả nợ trước hạn. Hãy hỏi danh sách đầy đủ các khoản phí trước khi so sánh hai lời chào vay.
Thông tin khoản vay tôi nhập có bị lưu lại không?
Không. Toàn bộ phép tính chạy bằng JavaScript ngay trên trình duyệt, không có bước gửi dữ liệu lên máy chủ và cũng không có bước lưu. Bạn nhập được số tiền và thu nhập thật để tính cho chính xác, tải lại trang là mọi thứ biến mất.
Từ khóa liên quan
- tính lãi vay ngân hàng
- tính trả góp hàng tháng
- công cụ tính khoản vay online
- lãi suất dư nợ giảm dần
- lãi suất trên dư nợ gốc
- lãi phẳng là gì
- quy đổi lãi phẳng sang lãi thực
- lịch trả nợ hàng tháng
- vay mua nhà trả góp bao nhiêu một tháng
- lãi suất ưu đãi và thả nổi
- biên độ lãi suất thả nổi
- phí trả nợ trước hạn
- trả nợ trước hạn có lợi không
- vay 500 triệu trả bao nhiêu
- tính tổng tiền lãi khoản vay
- gốc đều và trả góp đều khác nhau
- khả năng trả nợ bao nhiêu phần trăm thu nhập
- vay tiêu dùng lãi suất cao
- trả góp thẻ tín dụng lãi bao nhiêu
- loan calculator tiếng việt
