Tính tiền điện sinh hoạt theo 6 bậc thang EVN, xem rõ mỗi bậc tốn bao nhiêu
Công cụ tính tiền điện sinh hoạt theo biểu giá bán lẻ bậc thang sáu bậc đang áp dụng trên hóa đơn của ngành điện. Thay vì chỉ đưa ra một con số cuối, công cụ bóc số kWh của bạn vào từng bậc, hiển thị số điện và thành tiền của mỗi bậc, cộng thuế giá trị gia tăng rồi cho ra đơn giá bình quân thực tế. Chế độ so sánh hai mức tiêu thụ cho thấy ngay khoản tiền tăng thêm khi bạn dùng nhiều điện hơn.
Tính năng nổi bật
- Tính đủ 6 bậc thang giá điện sinh hoạt, hiển thị số kWh và thành tiền của từng bậc
- Cộng thuế giá trị gia tăng, chọn được giữa mức 8% đang áp dụng và mức phổ thông 10%
- Đơn giá bình quân thực tế trên mỗi kWh, con số này luôn khác giá của bất kỳ bậc nào
- Chỉ rõ mức tiêu thụ của bạn đang chạm tới bậc thứ mấy và mỗi kWh dùng thêm hiện tính giá bao nhiêu
- Chế độ so sánh hai mức tiêu thụ, tính ra phần kWh tăng thêm và phần tiền tăng thêm
- Bảng đối chiếu từng bậc giữa hai mức tiêu thụ để thấy phần điện tăng thêm rơi vào bậc nào
- Nút sao chép toàn bộ bảng tính để gửi cho chủ nhà, người ở ghép hoặc lưu lại đối chiếu
- Đơn giá từng bậc đặt thành hằng số kèm ngày áp dụng, dễ cập nhật khi giá điện điều chỉnh
Vì sao hóa đơn tiền điện tăng nhanh hơn số điện bạn dùng
Rất nhiều hộ gia đình thấy tháng nóng số điện chỉ tăng khoảng bốn mươi phần trăm nhưng tiền phải trả tăng tới sáu bảy chục phần trăm, rồi nghi ngờ công tơ chạy sai. Nguyên nhân thật ra nằm ở cấu trúc biểu giá. Điện sinh hoạt tính theo bậc thang lũy tiến, mỗi bậc có đơn giá cao hơn bậc trước, và phần điện dùng thêm luôn rơi vào bậc trên cùng chứ không được chia đều cho các bậc. Đơn giá bậc cao nhất cao hơn bậc thấp nhất khoảng bảy mươi tư phần trăm, nên một trăm kWh dùng thêm ở bậc sáu tốn hơn khoảng ba phần tư so với một trăm kWh đầu tiên trong tháng. Đó cũng là lý do đơn giá bình quân của hóa đơn tăng dần theo sản lượng: hộ dùng một trăm kWh có đơn giá bình quân thấp hơn hẳn hộ dùng bốn trăm kWh, dù cả hai đều mua điện từ cùng một biểu giá. Công cụ này làm rõ toàn bộ cơ chế đó bằng cách bày ra từng bậc, để bạn thấy chính xác khoản tiền của mình nằm ở đâu và biết mình đang ở bậc nào trước khi quyết định bật thêm thiết bị.
Lợi ích khi sử dụng
- Hiểu vì sao hóa đơn tăng vọt trong tháng nóng mà không cần nghi ngờ công tơ
- Biết mình đang ở bậc nào để cân nhắc trước khi bật thêm thiết bị công suất lớn
- Ước tính trước tiền điện khi định mua thêm điều hòa, bình nóng lạnh hay máy sấy
- Có bảng tính rõ ràng để chia tiền điện công bằng với người ở ghép hoặc chủ nhà trọ
- Kiểm tra chéo hóa đơn của đơn vị điện lực khi thấy con số bất thường
Cách tính tiền điện sinh hoạt
- 1Nhập số kWh tiêu thụ trong kỳ, lấy bằng chỉ số cuối kỳ trừ chỉ số đầu kỳ ghi trên hóa đơn hoặc đọc trực tiếp trên công tơ.
- 2Chọn mức thuế giá trị gia tăng, mặc định là mức đang được áp dụng trên hóa đơn tiền điện.
- 3Đọc bốn con số ở khối kết quả: tiền điện chưa thuế, tiền thuế, tổng thanh toán và đơn giá bình quân mỗi kWh.
- 4Xem bảng chi tiết từng bậc để biết bao nhiêu kWh được tính ở mỗi bậc và mỗi bậc tốn bao nhiêu tiền.
- 5Bật chế độ so sánh rồi nhập mức tiêu thụ thứ hai để thấy phần điện tăng thêm khiến hóa đơn tăng bao nhiêu và rơi vào bậc nào.
Cách bóc số điện vào từng bậc và vì sao không được nhân một đơn giá duy nhất
Sai lầm phổ biến nhất khi tự tính tiền điện là lấy tổng số kWh nhân với đơn giá của bậc cao nhất mà mình chạm tới. Cách tính đúng là lũy tiến từng phần, giống hệt nguyên tắc của biểu thuế thu nhập cá nhân. Với mức tiêu thụ hai trăm năm mươi kWh, ta không nhân cả hai trăm năm mươi với đơn giá bậc bốn, mà chia ra: năm mươi kWh đầu tính giá bậc một, năm mươi kWh tiếp theo tính giá bậc hai, một trăm kWh kế tiếp tính giá bậc ba, và năm mươi kWh còn lại mới tính giá bậc bốn. Bốn khoản này cộng lại thành tiền điện chưa thuế, sau đó nhân thêm thuế giá trị gia tăng để ra tổng thanh toán. Độ rộng của các bậc không đều nhau: bậc một và bậc hai mỗi bậc rộng năm mươi kWh, bậc ba, bậc bốn và bậc năm mỗi bậc rộng một trăm kWh, còn bậc sáu không có giới hạn trên. Nhiều hộ gia đình đô thị dùng từ hai trăm đến bốn trăm kWh mỗi tháng, tức là thường xuyên chạm bậc bốn hoặc bậc năm, còn tháng nóng bật điều hòa nhiều giờ thì rất dễ sang bậc sáu.
Đơn giá bình quân: con số duy nhất giúp so sánh giữa các tháng
Đơn giá bình quân bằng tổng tiền thanh toán chia cho số kWh tiêu thụ, và nó không trùng với đơn giá của bất kỳ bậc nào. Với hộ dùng ít điện, con số này nằm gần giá bậc một hoặc bậc hai; với hộ dùng nhiều, nó bị kéo lên gần giá bậc sáu. Đây là chỉ số hữu ích nhất để so sánh hóa đơn giữa các tháng, vì nó tách bạch được hai nguyên nhân khiến hóa đơn tăng. Nếu đơn giá bình quân của bạn giữ nguyên mà tổng tiền tăng, nghĩa là bạn đơn thuần dùng nhiều điện hơn theo cùng một cấu trúc. Nếu đơn giá bình quân tăng lên, nghĩa là phần điện tăng thêm đã đẩy bạn lên bậc cao hơn, và mỗi kWh tiếp theo sẽ đắt hơn trước. Còn khi cả hai đều nhảy trong khi thói quen sử dụng không đổi, khả năng cao là biểu giá đã được điều chỉnh giữa kỳ. Nhiều người theo dõi hóa đơn nhiều năm nhưng chỉ nhìn tổng tiền, nên không phân biệt được ba tình huống này và thường quy hết cho việc tăng giá điện.
Kỳ hóa đơn không tròn tháng và cách định mức được chia theo ngày
Đây là lý do khiến kết quả tự tính đôi khi lệch với hóa đơn thật dù bạn nhập đúng số kWh. Ngành điện ghi chỉ số theo lịch của từng khu vực, và một kỳ hóa đơn có thể dài hai mươi tám ngày, ba mươi ngày hay ba mươi ba ngày tùy đợt điều chỉnh lịch ghi. Khi số ngày của kỳ khác với số ngày chuẩn, định mức của từng bậc được tính lại theo tỷ lệ ngày thực tế chứ không giữ nguyên năm mươi hay một trăm kWh. Kỳ dài hơn thì định mức mỗi bậc rộng ra, kỳ ngắn hơn thì hẹp lại. Hệ quả là hai kỳ có cùng sản lượng nhưng khác số ngày sẽ ra hai con số tiền khác nhau. Một tình huống nữa là khi giá điện được điều chỉnh vào giữa kỳ, khi đó sản lượng của kỳ được chia theo số ngày trước và sau ngày điều chỉnh, mỗi phần áp một biểu giá riêng. Công cụ này tính theo kỳ tròn một tháng với biểu giá thống nhất, nên hãy xem kết quả là con số ước lượng chuẩn cho việc lập kế hoạch chi tiêu, còn hóa đơn chính thức vẫn theo cách tính của đơn vị điện lực.
Định mức cho nhà trọ, hộ dùng chung công tơ và sinh viên thuê nhà
Quy định về giá bán điện có riêng một nhóm trường hợp cho người thuê nhà để ở. Khi nhiều hộ dùng chung một công tơ, bên bán điện áp dụng định mức nhân theo số hộ dùng chung, tức mỗi bậc được nhân lên tương ứng thay vì cả nhà chia nhau một định mức duy nhất. Với sinh viên và người lao động thuê nhà, nếu thời hạn thuê từ mười hai tháng trở lên và có đăng ký tạm trú thì chủ nhà trực tiếp ký hợp đồng mua bán điện, còn nếu dưới mười hai tháng thì chủ nhà có thể kê khai số người sử dụng để bên bán điện cấp định mức, cứ bốn người được tính là một hộ sử dụng điện. Đây là điểm rất nhiều người thuê trọ không biết, và cũng là gốc rễ của tình trạng chủ trọ thu tiền điện cao hơn giá bán lẻ. Nếu bạn đang thuê trọ và bị thu theo một đơn giá cố định cao hơn nhiều so với đơn giá bình quân tính được trong công cụ này, hãy dùng bảng chi tiết từng bậc làm căn cứ trao đổi lại với chủ nhà, hoặc yêu cầu được kê khai định mức theo đúng quy định.
Thiết bị nào đẩy hóa đơn lên bậc cao và cách kiểm soát trong thực tế
Muốn giảm hóa đơn, việc đầu tiên là biết phần điện của mình đang đi đâu. Điều hòa nhiệt độ là thiết bị chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hầu hết hộ gia đình đô thị vào mùa nóng; một máy công suất phổ biến chạy tám tiếng mỗi đêm có thể tiêu thụ khoảng năm đến tám kWh mỗi ngày, tức khoảng một trăm năm mươi đến hai trăm bốn mươi kWh một tháng, đủ để đẩy một hộ đang ở bậc hai lên tận bậc năm hoặc bậc sáu. Bình nóng lạnh xếp thứ hai nếu để bật liên tục thay vì chỉ bật trước khi dùng khoảng mười lăm phút. Tủ lạnh chạy suốt ngày đêm nhưng công suất thấp nên tổng lượng điện vừa phải, tuy vậy tủ cũ đã mòn gioăng cửa có thể tiêu thụ gấp rưỡi tủ mới cùng dung tích. Máy sấy quần áo, bàn là và lò nướng đều là thiết bị sinh nhiệt nên rất tốn điện dù chỉ dùng vài chục phút. Điểm quan trọng khi tính hiệu quả tiết kiệm là phần điện bạn cắt được luôn nằm ở bậc cao nhất, nên giá trị tiết kiệm mỗi kWh cao hơn đơn giá bình quân. Hãy dùng chế độ so sánh trong công cụ để lượng hóa con số này trước khi quyết định đầu tư thiết bị mới.
Ví dụ tính trọn một hóa đơn: 250 kWh và khi tăng lên 350 kWh
Lấy một hộ dùng 250 kWh trong tháng, thuế giá trị gia tăng 8%. Bậc một: 50 kWh nhân 1.984 đồng bằng 99.200 đồng. Bậc hai: 50 kWh nhân 2.050 đồng bằng 102.500 đồng. Bậc ba: 100 kWh nhân 2.380 đồng bằng 238.000 đồng. Bậc bốn: 50 kWh còn lại nhân 2.998 đồng bằng 149.900 đồng. Cộng lại được 589.600 đồng chưa thuế, thuế 8% là 47.168 đồng, tổng thanh toán 636.768 đồng, đơn giá bình quân khoảng 2.547 đồng mỗi kWh. Sang tháng nóng, cùng hộ đó dùng 350 kWh. Phần 100 kWh tăng thêm gồm 50 kWh cuối của bậc bốn và 50 kWh đầu của bậc năm giá 3.350 đồng, nên tiền chưa thuế lên 907.000 đồng và tổng thanh toán là 979.560 đồng. Sản lượng tăng 40% nhưng hóa đơn tăng khoảng 54%, và mỗi kWh tăng thêm thực chất có giá khoảng 3.428 đồng đã gồm thuế, cao hơn hẳn đơn giá bình quân 2.547 đồng của tháng trước. Bạn có thể nhập đúng hai con số 250 và 350 vào chế độ so sánh của công cụ để thấy lại toàn bộ phép tính này.
Biểu 6 bậc đang áp dụng và cơ cấu 5 bậc theo Quyết định 14/2025/QĐ-TTg
Nhiều bài viết trên mạng đăng bảng giá điện năm bậc với bậc cao nhất khoảng 3.967 đồng mỗi kWh, khiến người dùng bối rối khi so với hóa đơn. Thực tế, Quyết định 14/2025/QĐ-TTg có hiệu lực từ 29/05/2025 quy định cơ cấu mới cho điện sinh hoạt gồm năm bậc: 100 kWh đầu tiên bằng 90% giá bán lẻ điện bình quân, từ 101 đến 200 kWh bằng 108%, từ 201 đến 400 kWh bằng 136%, từ 401 đến 700 kWh bằng 162% và trên 700 kWh bằng 180%. Tuy nhiên quyết định này ghi rõ cơ cấu mới chỉ được áp dụng kể từ lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân gần nhất sau ngày có hiệu lực; trong thời gian chờ, biểu giá sáu bậc cũ tiếp tục được dùng. Giá bán lẻ bình quân vẫn là 2.204,0655 đồng mỗi kWh từ ngày 10/05/2025, nên các bảng năm bậc đang lưu hành chỉ là con số nhân thử tỷ lệ phần trăm với mức giá bình quân này, chưa phải đơn giá in trên hóa đơn. Công cụ vì vậy tính theo sáu bậc của Quyết định 1279/QĐ-BCT, và sẽ chuyển sang năm bậc khi EVN công bố biểu giá mới kèm lần điều chỉnh giá bình quân. Khi đó, hộ dùng dưới 100 kWh sẽ được hưởng trọn đơn giá thấp nhất cho cả 100 kWh đầu, còn các mốc trên được nới rộng đáng kể.
Quy đổi công suất thiết bị ra kWh để ước tính trước tiền điện
Công cụ cần số kWh, nhưng khi định mua thêm một thiết bị bạn chỉ biết công suất ghi trên nhãn. Cách quy đổi là lấy công suất tính bằng oát nhân số giờ dùng mỗi ngày, nhân số ngày trong tháng rồi chia cho một nghìn. Một bình nóng lạnh 2.500 W bật tổng cộng một giờ mỗi ngày tiêu thụ khoảng 75 kWh một tháng; một điều hòa có công suất điện thực tế khoảng 1.000 W chạy tám tiếng mỗi đêm tiêu thụ khoảng 240 kWh. Lưu ý rằng điều hòa inverter và tủ lạnh không chạy hết công suất liên tục, nên con số thực thường thấp hơn phép nhân thẳng; nhãn năng lượng ghi mức tiêu thụ năm hoặc tháng sẽ sát thực tế hơn. Sau khi có số kWh ước tính, hãy cộng vào mức tiêu thụ hiện tại trong ô so sánh: công cụ sẽ cho biết thiết bị mới làm hóa đơn tăng bao nhiêu theo đúng bậc mà phần điện đó rơi vào, thay vì nhân với một đơn giá chung chung.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Giá điện sinh hoạt hiện có mấy bậc?
Trên hóa đơn hiện nay vẫn là sáu bậc theo Quyết định 1279/QĐ-BCT áp dụng từ 10/05/2025: bậc một 0 đến 50 kWh giá 1.984 đồng, bậc hai 51 đến 100 kWh giá 2.050 đồng, bậc ba 101 đến 200 kWh giá 2.380 đồng, bậc bốn 201 đến 300 kWh giá 2.998 đồng, bậc năm 301 đến 400 kWh giá 3.350 đồng và bậc sáu từ 401 kWh trở lên giá 3.460 đồng, tất cả chưa gồm thuế giá trị gia tăng. Quyết định 14/2025/QĐ-TTg đã quy định cơ cấu mới rút xuống năm bậc, nhưng cơ cấu này chỉ được áp dụng từ lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân đầu tiên sau ngày 29/05/2025.
Dùng 250 kWh thì tính theo đơn giá bậc bốn cho cả 250 kWh phải không?
Không. Cách tính là lũy tiến từng phần: 50 kWh đầu tính giá bậc một, 50 kWh tiếp theo tính giá bậc hai, 100 kWh tiếp nữa tính giá bậc ba, và chỉ 50 kWh cuối cùng mới tính giá bậc bốn. Kết quả là 589.600 đồng chưa thuế. Nếu nhân cả 250 kWh với 2.998 đồng sẽ ra 749.500 đồng, cao hơn hóa đơn thật gần 160 nghìn đồng.
Vì sao số điện tăng 40% mà tiền điện tăng tới 70%?
Vì phần điện dùng thêm rơi hết vào bậc cao nhất chứ không được chia đều cho các bậc. Đơn giá bậc sáu cao hơn bậc một khoảng 74%, nên mỗi kWh tăng thêm ở bậc trên đắt hơn hẳn những kWh đầu tiên trong tháng. Đây là đặc điểm của biểu giá lũy tiến, không phải lỗi công tơ.
Đơn giá bình quân là gì và dùng để làm gì?
Là tổng tiền thanh toán chia cho số kWh tiêu thụ, và nó không trùng với đơn giá của bất kỳ bậc nào. Đây là chỉ số tốt nhất để so sánh hóa đơn giữa các tháng: nếu đơn giá bình quân tăng nghĩa là bạn đã bị đẩy lên bậc cao hơn, còn nếu nó giữ nguyên thì bạn chỉ đơn giản dùng nhiều điện hơn theo cùng cấu trúc.
Tiền điện có chịu thuế giá trị gia tăng không?
Có. Tiền điện chưa thuế được tính theo bậc thang trước, sau đó nhân thêm thuế giá trị gia tăng để ra tổng thanh toán. Mức phổ thông là 10%, nhưng trong thời gian nghị quyết giảm hai điểm phần trăm của Quốc hội còn hiệu lực thì hóa đơn tiền điện được xuất ở mức 8%.
Vì sao kết quả tôi tính lệch vài chục nghìn so với hóa đơn?
Thường do kỳ hóa đơn không tròn tháng. Khi số ngày của kỳ khác chuẩn, định mức của từng bậc được tính lại theo tỷ lệ ngày thực tế nên các mốc 50, 100, 200, 300, 400 kWh không còn nguyên. Nguyên nhân khác là giá điện được điều chỉnh giữa kỳ, khi đó sản lượng bị chia theo số ngày trước và sau ngày điều chỉnh.
Nhà trọ nhiều phòng dùng chung một công tơ tính thế nào?
Khi nhiều hộ dùng chung một công tơ, định mức mỗi bậc được nhân theo số hộ dùng chung thay vì cả nhà chia nhau một định mức duy nhất. Với người thuê nhà dưới mười hai tháng, chủ nhà có thể kê khai số người sử dụng để được cấp định mức, cứ bốn người tính là một hộ sử dụng điện.
Chủ trọ thu tiền điện giá cố định cao hơn có đúng không?
Việc thu cao hơn giá bán lẻ quy định là không đúng. Bạn có thể dùng bảng chi tiết từng bậc trong công cụ này để đối chiếu, tính ra đơn giá bình quân thực tế theo sản lượng của cả nhà, rồi trao đổi lại với chủ nhà hoặc yêu cầu được kê khai định mức theo đúng quy định về giá bán điện.
Điều hòa tốn bao nhiêu điện mỗi tháng?
Một máy công suất phổ biến chạy khoảng tám tiếng mỗi đêm tiêu thụ chừng năm đến tám kWh một ngày, tương đương một trăm năm mươi đến hai trăm bốn mươi kWh một tháng. Riêng con số đó đủ để đẩy một hộ đang ở bậc hai lên bậc năm, và đó là lý do hóa đơn mùa nóng thường tăng gấp đôi.
Tiết kiệm 50 kWh mỗi tháng thì giảm được bao nhiêu tiền?
Nhiều hơn bạn nghĩ, vì phần cắt được luôn nằm ở bậc cao nhất chứ không phải bậc thấp. Hãy bật chế độ so sánh, nhập mức hiện tại và mức sau khi giảm, công cụ sẽ tính đúng khoản chênh lệch cùng đơn giá thực tế của mỗi kWh tiết kiệm được, thường cao hơn đơn giá bình quân của hóa đơn.
Số liệu trong công cụ áp dụng từ khi nào?
Đơn giá từng bậc trong công cụ theo biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt áp dụng từ ngày 10/05/2025, và ngày này được hiển thị ngay dưới bảng chi tiết. Giá điện được điều chỉnh định kỳ nên nếu ngày hiển thị đã lâu so với thời điểm bạn dùng, hãy đối chiếu lại với biểu giá mới nhất của đơn vị điện lực.
Công cụ có tính được điện kinh doanh hoặc sản xuất không?
Không. Biểu giá bậc thang của công cụ chỉ áp dụng cho nhóm khách hàng sinh hoạt. Điện cho kinh doanh, sản xuất và hành chính sự nghiệp dùng biểu giá riêng theo cấp điện áp và theo khung giờ cao điểm, thấp điểm, bình thường, nên phải tra theo biểu giá của đúng nhóm khách hàng đó.
Dùng 300 kWh một tháng hết bao nhiêu tiền điện?
Theo biểu sáu bậc hiện hành, 300 kWh được tính: 50 kWh giá 1.984 đồng, 50 kWh giá 2.050 đồng, 100 kWh giá 2.380 đồng và 100 kWh giá 2.998 đồng, cộng lại 739.500 đồng chưa thuế. Thêm thuế giá trị gia tăng 8% là 59.160 đồng, tổng thanh toán khoảng 798.660 đồng, đơn giá bình quân khoảng 2.662 đồng mỗi kWh. Nếu kỳ hóa đơn không tròn tháng, số thực tế có thể lệch đôi chút.
Giá điện 5 bậc đã được áp dụng trên hóa đơn chưa?
Chưa, tính tới lần cập nhật công cụ. Quyết định 14/2025/QĐ-TTg quy định cơ cấu năm bậc nhưng chỉ áp dụng từ lần điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân đầu tiên sau ngày 29/05/2025. Giá bình quân vẫn giữ 2.204,0655 đồng mỗi kWh kể từ 10/05/2025, nên hóa đơn vẫn tính theo sáu bậc. Khi EVN điều chỉnh giá, hãy kiểm tra ngày áp dụng hiển thị dưới bảng chi tiết của công cụ.
Vì sao có nơi ghi giá điện bậc cao nhất gần 4.000 đồng mỗi kWh?
Đó là con số tính thử theo cơ cấu năm bậc mới, lấy 180% nhân với giá bán lẻ bình quân 2.204,0655 đồng. Cơ cấu này chưa được áp dụng trên hóa đơn. Bậc cao nhất đang áp dụng là bậc sáu, từ 401 kWh trở lên, giá 3.460 đồng mỗi kWh chưa gồm thuế.
Làm sao tính số kWh của một thiết bị điện?
Lấy công suất thiết bị tính bằng oát nhân số giờ dùng mỗi ngày, nhân số ngày trong tháng rồi chia cho 1.000. Ví dụ thiết bị 1.000 W dùng tám giờ mỗi ngày trong 30 ngày tiêu thụ 240 kWh. Với thiết bị inverter hoặc tủ lạnh, con số này là mức trần vì máy không chạy hết công suất liên tục.
Từ khóa liên quan
- cách tính tiền điện sinh hoạt
- giá điện bậc thang 6 bậc
- giá điện 5 bậc khi nào áp dụng
- bảng giá điện evn mới nhất
- tính tiền điện online
- giá điện sinh hoạt bao nhiêu 1 kwh
- tiền điện 300 kwh hết bao nhiêu
- vì sao tiền điện tăng đột biến
- đơn giá điện bậc 6
- thuế gtgt trên hóa đơn tiền điện
- định mức điện nhà trọ
- giá điện cho sinh viên thuê nhà
- cách đọc chỉ số công tơ điện
- điều hòa tốn bao nhiêu điện
- tiết kiệm điện mùa nóng
- hóa đơn tiền điện không tròn tháng
- giá bán lẻ điện bình quân
- biểu giá bán lẻ điện sinh hoạt
- so sánh tiền điện hai mức tiêu thụ
- đơn giá bình quân tiền điện
- tính tiền điện theo kwh
- cách tính kwh của thiết bị điện