So sánh hai cách trả nợ: dư nợ giảm dần và góp đều, chênh nhau bao nhiêu
Công cụ tính khoản trả nợ theo hai phương thức mà ngân hàng Việt Nam đang dùng: tính lãi trên dư nợ giảm dần, và trả góp đều mỗi tháng một số tiền như nhau. Cùng một khoản vay, hai cách cho ra số tiền tháng đầu và tổng lãi khác nhau rõ rệt, và công cụ cho bạn thấy khoảng chênh đó bằng con số cụ thể.
Tính năng nổi bật
- Hai phương thức tính trong cùng một màn hình: dư nợ giảm dần và trả góp đều
- Nhập số tiền vay, lãi suất năm và thời hạn tính theo tháng, ba dữ kiện tối thiểu của mọi khoản vay
- Với phương thức giảm dần: hiện số tiền phải trả tháng đầu và phần gốc cố định mỗi tháng
- Với phương thức góp đều: hiện số tiền cố định phải trả hàng tháng
- Cả hai phương thức đều hiện tổng lãi phải trả và tổng số tiền phải trả trong suốt kỳ vay
- Kiểm tra đầu vào và báo lỗi khi số tiền, lãi suất hoặc thời hạn không hợp lệ
- Định dạng số theo cách viết tiền Việt Nam, có dấu phân cách hàng nghìn và ký hiệu đồng
- Tính ngay trong trình duyệt, số liệu tài chính của bạn không được gửi đi đâu
Cùng một lãi suất, hai cách tính cho ra hai số tiền rất khác nhau
Khi hỏi vay, câu đầu tiên ai cũng hỏi là lãi suất bao nhiêu phần trăm. Nhưng con số đó chưa nói lên bạn phải trả bao nhiêu, vì còn phụ thuộc vào cách ngân hàng tính lãi trên số dư nào. Với phương thức dư nợ giảm dần, lãi mỗi tháng tính trên phần bạn còn nợ, mà phần đó nhỏ dần theo thời gian nên tiền lãi cũng giảm dần. Với phương thức trả góp đều, số tiền mỗi tháng cố định để bạn dễ lập kế hoạch, nhưng trong những năm đầu phần lớn số tiền đó là lãi chứ không phải gốc. Chênh lệch tổng lãi giữa hai cách với một khoản vay dài hạn có thể lên tới hàng chục phần trăm. Biết trước con số này giúp bạn hỏi đúng câu khi ngồi trước nhân viên tín dụng, và quan trọng hơn là biết mình có thật sự gánh nổi số tiền tháng đầu tiên hay không.
Lợi ích khi sử dụng
- Thấy được khoảng chênh giữa hai phương thức bằng số tiền cụ thể thay vì bằng cảm giác
- Biết trước số tiền tháng đầu của phương thức giảm dần, thường là con số cao nhất trong cả kỳ vay
- Biết tổng lãi phải trả trước khi ký, đây là con số ít khi được nhắc tới trong buổi tư vấn
- Thử nhanh nhiều kịch bản thời hạn để tìm điểm cân bằng giữa số tiền tháng và tổng lãi
- Không phải khai báo thông tin cá nhân hay số điện thoại để nhận kết quả
Cách so sánh hai phương thức
- 1Nhập số tiền vay theo đơn vị đồng, gõ liền không cần dấu phân cách vì công cụ tự định dạng lại khi hiển thị.
- 2Nhập lãi suất theo năm, dùng dấu chấm cho phần thập phân, và nhớ đây là lãi suất năm chứ không phải lãi suất tháng.
- 3Nhập thời hạn tính bằng tháng, một khoản vay hai mươi năm là 240 tháng chứ không phải 20.
- 4Chọn phương thức dư nợ giảm dần rồi bấm tính, ghi lại số tiền tháng đầu và tổng lãi.
- 5Đổi sang phương thức trả góp đều rồi tính lại với đúng ba dữ kiện đó, so hai bộ kết quả để thấy khoảng chênh.
Hai công thức và một ví dụ so sánh bằng số thật
Với phương thức dư nợ giảm dần, mỗi tháng bạn trả một phần gốc cố định bằng số tiền vay chia cho số tháng, cộng với tiền lãi tính trên phần còn nợ. Tổng lãi cả kỳ bằng số tiền vay nhân lãi suất tháng nhân với số tháng cộng một rồi chia đôi. Với phương thức trả góp đều, số tiền mỗi tháng được tính bằng công thức niên kim, trong đó tiền vay nhân với lãi suất tháng nhân lũy thừa của một cộng lãi suất tháng, chia cho lũy thừa đó trừ một. Lấy ví dụ vay 500 triệu đồng, lãi suất 8,5 phần trăm một năm, thời hạn 240 tháng. Lãi suất tháng là 8,5 chia 12 chia 100, khoảng 0,7083 phần trăm. Theo cách giảm dần, gốc mỗi tháng là hơn 2 triệu đồng, tháng đầu phải trả khoảng 5,6 triệu đồng, tổng lãi cả kỳ khoảng 427 triệu đồng. Theo cách góp đều, mỗi tháng trả cố định khoảng 4,34 triệu đồng, tổng lãi khoảng 541 triệu đồng. Chênh lệch tổng lãi giữa hai cách vượt 100 triệu đồng, nhưng đổi lại cách góp đều có số tiền tháng đầu thấp hơn hơn một triệu đồng.
Nên chọn phương thức nào theo hoàn cảnh của bạn
Không có câu trả lời chung, và đây là chỗ nhiều người quyết định vội. Phương thức dư nợ giảm dần rẻ hơn về tổng lãi vì bạn trả gốc nhanh hơn ngay từ đầu, nên hợp với người có thu nhập ổn định và đủ dư dả để gánh mức trả cao nhất rơi vào tháng đầu tiên. Nó cũng hợp với người dự định trả nợ trước hạn, vì dư nợ giảm nhanh nên số tiền phải tất toán sớm cũng thấp hơn. Phương thức trả góp đều cho số tiền cố định suốt kỳ, dễ đưa vào bảng chi tiêu gia đình và dễ được duyệt hơn khi thu nhập của bạn vừa đủ, vì ngân hàng xét khả năng trả nợ dựa trên số tiền hàng tháng. Nó cũng hợp với người kỳ vọng thu nhập tăng theo thời gian và muốn giữ dòng tiền hiện tại thoáng hơn. Điều cần cảnh giác là cảm giác dễ chịu của con số cố định che mất tổng chi phí thật; hãy nhìn cả hai con số cùng lúc rồi mới quyết. Và nhớ hỏi rõ ngân hàng đang áp phương thức nào, vì cùng một mức lãi suất công bố mà hai phương thức cho ra chi phí rất khác.
Lãi suất ưu đãi ban đầu và cái bẫy của phép tính một mức
Công cụ này tính với một mức lãi suất duy nhất áp cho toàn bộ kỳ vay, trong khi phần lớn khoản vay mua nhà ở Việt Nam không hoạt động như vậy. Cấu trúc phổ biến là một mức ưu đãi thấp cố định trong khoảng sáu tháng tới ba năm đầu, sau đó chuyển sang lãi suất thả nổi tính bằng lãi suất cơ sở của ngân hàng cộng thêm một biên độ ghi trong hợp đồng. Hệ quả là con số bạn tính với mức ưu đãi sẽ thấp hơn thực tế rất nhiều cho phần lớn thời gian vay. Cách dùng công cụ cho đúng là chạy hai lần: một lần với mức ưu đãi để biết giai đoạn đầu, một lần với mức bạn ước tính sau ưu đãi để biết mình có gánh nổi không. Khi hỏi ngân hàng, hai câu quan trọng nhất là biên độ cộng thêm là bao nhiêu và lãi suất cơ sở được xác định theo cách nào, vì đó mới là thứ quyết định số tiền bạn trả trong mười mấy năm còn lại. Hãy yêu cầu con số cụ thể ghi trong hợp đồng chứ đừng nhận câu trả lời chung chung là theo thị trường.
Những chi phí công cụ không tính tới
Kết quả ở đây chỉ gồm gốc và lãi, trong khi tổng chi phí thật của một khoản vay còn nhiều khoản khác. Phí thẩm định hồ sơ và phí công chứng thế chấp thường thu một lần khi giải ngân. Phí bảo hiểm khoản vay hoặc bảo hiểm tài sản thế chấp thường thu theo năm và không nhỏ. Phí đăng ký giao dịch bảo đảm và phí định giá tài sản cũng nằm trong nhóm phải trả trước. Đáng chú ý nhất là phí trả nợ trước hạn: nhiều hợp đồng tính một tỷ lệ phần trăm trên số tiền trả trước, giảm dần theo số năm đã vay, và nếu bạn có kế hoạch tất toán sớm thì khoản này ảnh hưởng lớn tới quyết định chọn thời hạn. Ngoài ra còn phí phạt chậm trả nếu có tháng nào bạn thanh toán trễ. Vì vậy đừng lấy con số của công cụ làm tổng chi phí; hãy yêu cầu ngân hàng cung cấp bảng dự tính đầy đủ mọi khoản trước khi ký, và đọc kỹ phần quy định về phí trong hợp đồng chứ không chỉ nhìn dòng lãi suất.
Tự kiểm tra khả năng trả nợ trước khi vay
Có vài mốc thực dụng nên tự soi. Thứ nhất, tổng số tiền trả nợ hàng tháng cho mọi khoản vay không nên vượt quá khoảng bốn mươi phần trăm thu nhập ổn định sau thuế; nhiều ngân hàng dùng ngưỡng quanh mức này khi thẩm định, và bản thân nó cũng là ngưỡng để bạn còn sống được. Thứ hai, hãy tính với số tiền tháng cao nhất chứ không phải số trung bình: với phương thức giảm dần thì đó là tháng đầu tiên, còn với khoản vay có ưu đãi thì đó là tháng đầu tiên sau khi hết ưu đãi. Thứ ba, hãy chừa quỹ dự phòng đủ trả nợ ba tới sáu tháng, vì rủi ro lớn nhất của khoản vay dài hạn không phải lãi suất mà là gián đoạn thu nhập. Thứ tư, khi cân nhắc kéo dài thời hạn để giảm số tiền tháng, hãy chạy lại phép tính để thấy tổng lãi tăng bao nhiêu; kéo từ 15 năm lên 20 năm làm số tiền tháng dễ thở hơn nhưng tổng lãi tăng đáng kể. Cuối cùng, con số ở đây là để bạn chuẩn bị tinh thần, không phải cam kết của bất kỳ ngân hàng nào.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Dư nợ giảm dần và trả góp đều khác nhau thế nào?
Với dư nợ giảm dần, phần gốc trả mỗi tháng cố định còn lãi tính trên số còn nợ nên giảm dần, khiến số tiền phải trả cao nhất ở tháng đầu rồi nhẹ dần. Với trả góp đều, tổng số tiền mỗi tháng cố định suốt kỳ nhưng những năm đầu phần lớn là lãi, và tổng lãi cả kỳ cao hơn đáng kể.
Phương thức nào rẻ hơn?
Dư nợ giảm dần luôn cho tổng lãi thấp hơn ở cùng mức lãi suất và cùng thời hạn, vì bạn trả gốc nhanh hơn nên phần dư nợ chịu lãi nhỏ đi sớm hơn. Đổi lại số tiền tháng đầu cao hơn, và chính con số đó mới quyết định bạn có được duyệt vay hay không cũng như có gánh nổi hay không.
Nhập lãi suất theo năm hay theo tháng?
Theo năm. Công cụ tự chia cho 12 để ra lãi suất tháng trước khi tính. Nếu bạn nhập nhầm lãi suất tháng vào ô này, kết quả sẽ thấp hơn thực tế khoảng mười hai lần. Khi nghe tư vấn báo con số dạng 0,7 phần trăm một tháng, hãy nhân với 12 rồi mới nhập vào đây.
Thời hạn nhập theo năm hay theo tháng?
Theo tháng. Một khoản vay 20 năm phải nhập 240 chứ không phải 20. Đây là lỗi nhập liệu phổ biến nhất và cho ra kết quả sai lệch rất lớn, nên hãy kiểm tra lại con số này trước khi đọc kết quả, nhất là khi số tiền hàng tháng hiện ra cao bất thường.
Công cụ có tính được lãi suất ưu đãi rồi thả nổi không?
Không, nó tính với một mức lãi suất duy nhất cho toàn kỳ. Cách xử lý là chạy hai lần: một lần với mức ưu đãi để biết giai đoạn đầu, một lần với mức bạn ước tính sau ưu đãi để kiểm tra xem mình có gánh nổi giai đoạn còn lại hay không. Đây là bước rất nên làm với khoản vay dài hạn.
Lãi suất thả nổi được xác định thế nào?
Thường bằng lãi suất cơ sở hoặc lãi suất tiết kiệm kỳ hạn tham chiếu của ngân hàng, cộng thêm một biên độ cố định ghi trong hợp đồng. Biên độ là phần bạn nên hỏi rõ bằng con số cụ thể, vì nó không đổi suốt kỳ vay và là thứ quyết định chi phí của bạn trong nhiều năm sau khi hết ưu đãi.
Kết quả có bao gồm các loại phí không?
Không, kết quả chỉ gồm gốc và lãi. Chưa tính phí thẩm định, phí công chứng thế chấp, phí đăng ký giao dịch bảo đảm, phí định giá tài sản, bảo hiểm khoản vay, phí trả nợ trước hạn và phí phạt chậm trả. Hãy yêu cầu ngân hàng cung cấp bảng dự tính đầy đủ mọi khoản trước khi ký hợp đồng.
Trả nợ trước hạn có bị phạt không?
Phần lớn hợp đồng vay dài hạn đều có điều khoản này, thường tính theo tỷ lệ phần trăm trên số tiền trả trước và giảm dần theo số năm đã vay. Nếu bạn dự định tất toán sớm, hãy hỏi rõ tỷ lệ và số năm áp dụng, vì khoản này có thể xóa sạch phần lãi bạn tiết kiệm được khi trả sớm.
Số tiền trả hàng tháng nên chiếm bao nhiêu phần thu nhập?
Một mốc thực dụng là tổng nghĩa vụ trả nợ của mọi khoản vay không vượt quá khoảng bốn mươi phần trăm thu nhập ổn định sau thuế. Nhiều ngân hàng thẩm định quanh ngưỡng này. Quan trọng hơn, hãy tính với số tiền tháng cao nhất chứ không phải số trung bình, và chừa quỹ dự phòng đủ trả nợ ba tới sáu tháng.
Kéo dài thời hạn vay có lợi không?
Nó làm số tiền hàng tháng nhẹ đi và giúp hồ sơ dễ được duyệt hơn, nhưng tổng lãi tăng lên đáng kể vì bạn chịu lãi trên dư nợ trong nhiều năm hơn. Hãy chạy phép tính với hai ba mốc thời hạn khác nhau để nhìn thấy con số chênh lệch, rồi cân nhắc giữa dòng tiền hiện tại và tổng chi phí.
Vì sao con số ở đây khác con số ngân hàng báo?
Có vài nguyên nhân thường gặp: ngân hàng tính theo số ngày thực tế trong tháng thay vì chia đều 12 phần, có tháng lẻ ở kỳ đầu do ngày giải ngân, hoặc đã cộng thêm bảo hiểm và phí vào số tiền hàng tháng. Chênh lệch nhỏ là bình thường, nhưng nếu chênh nhiều thì hãy hỏi ngân hàng giải thích từng dòng.
Kết quả này có phải cam kết cho vay không?
Không. Đây thuần túy là một phép tính từ ba con số bạn nhập vào, không phải chào lãi suất và không phải cam kết của bất kỳ tổ chức tín dụng nào. Lãi suất thật, hạn mức được duyệt và điều kiện đi kèm đều do ngân hàng quyết định sau khi thẩm định hồ sơ và tài sản bảo đảm của bạn.
Từ khóa liên quan
- tính lãi vay ngân hàng
- dư nợ giảm dần là gì
- trả góp đều và giảm dần
- cách tính lãi suất vay mua nhà
- tính trả góp hàng tháng
- công thức tính lãi dư nợ giảm dần
- tổng lãi phải trả khi vay
- lãi suất ưu đãi rồi thả nổi
- biên độ lãi suất thả nổi
- phí trả nợ trước hạn
- vay 500 triệu trả bao nhiêu một tháng
- vay mua nhà 20 năm
- khả năng trả nợ bao nhiêu phần trăm thu nhập
- so sánh phương thức trả nợ
- tính lãi vay mua xe
- lãi suất năm và lãi suất tháng
- tính khoản vay online
- chi phí thật của khoản vay
- lịch trả nợ ngân hàng
- công cụ tính vay miễn phí