Tan Phat Media

IP Subnet Calculator

Tính toán subnet mask, network address, broadcast address

Nhập thông tin
CIDR Reference
CIDRSubnet MaskHostsUsable
/24255.255.255.0256254
/25255.255.255.128128126
/26255.255.255.1926462
/27255.255.255.2243230
/28255.255.255.2401614
/29255.255.255.24886
/30255.255.255.25242
/31255.255.255.25422
/32255.255.255.25511

Hợp tác ngay với Tấn Phát Digital

Chúng tôi không chỉ thiết kế website, mà còn giúp doanh nghiệp xây dựng thương hiệu số mạnh mẽ. Cung cấp dịch vụ thiết kế website trọn gói từ thiết kế đến tối ưu SEO. Hãy liên hệ ngay với Tấn Phát Digital để cùng tạo nên những giải pháp công nghệ đột phá, hiệu quả và bền vững cho doanh nghiệp của bạn tại Hồ Chí Minh.

Tính subnet IPv4: địa chỉ mạng, dải host dùng được và mặt nạ

Nhập một địa chỉ IPv4 kèm độ dài tiền tố, công cụ trả về địa chỉ mạng, địa chỉ quảng bá, host đầu và host cuối dùng được, mặt nạ mạng con ở cả ba dạng thập phân, nhị phân và mặt nạ nghịch đảo, cùng tổng số địa chỉ và số host thực dùng. Có sẵn bảng tra nhanh từ tiền tố 24 tới 32.

Tính năng nổi bật

  • Chọn độ dài tiền tố từ 0 tới 32 trong danh sách thả xuống, không phải gõ tay mặt nạ
  • Tính địa chỉ mạng và địa chỉ quảng bá từ phép và bit giữa địa chỉ với mặt nạ
  • Xác định host đầu tiên và host cuối cùng dùng được, xử lý riêng hai trường hợp tiền tố 31 và 32
  • Hiển thị mặt nạ mạng con dạng bốn số, mặt nạ nghịch đảo và chuỗi nhị phân chia thành bốn nhóm tám bit
  • Cho biết tổng số địa chỉ trong dải và số host thực sự gán được
  • Nhận diện lớp địa chỉ theo octet đầu, gồm cả lớp D dành cho phát đa hướng và lớp E dành riêng
  • Phân biệt địa chỉ riêng, địa chỉ vòng lặp nội bộ và địa chỉ công cộng
  • Sao chép toàn bộ kết quả thành một khối văn bản chín dòng để dán vào tài liệu cấu hình

Nhầm một bit trong mặt nạ là cả mạng con không nói chuyện được

Chia mạng con là loại công việc mà sai sót không báo lỗi rõ ràng. Bạn đặt mặt nạ 255.255.255.192 cho một máy trong khi các máy khác dùng 255.255.255.0, và kết quả là máy đó vẫn thấy vài máy trong mạng nhưng không thấy phần còn lại, một triệu chứng khiến người ta đi tìm nguyên nhân ở dây cáp, ở tường lửa và ở phần mềm trước khi nghĩ tới mặt nạ. Tính tay thì phải đổi sang nhị phân, làm phép và bit rồi đổi ngược lại, một quy trình dễ sai khi tiền tố không rơi vào ranh giới byte như 26 hay 29. Công cụ này làm đúng chuỗi phép tính đó và đưa ra luôn dải host dùng được, thứ bạn cần khi lập bảng cấp phát địa chỉ, khi đặt vùng cấp phát động của bộ định tuyến, khi viết luật cho tường lửa hay khi khai báo dải mạng cho hai điểm nối với nhau. Nó cũng hữu ích lúc học, vì phần nhị phân hiển thị ngay bên cạnh kết quả giúp bạn thấy quan hệ giữa số bit và kích thước dải.

Lợi ích khi sử dụng

  • Có ngay dải host dùng được mà không phải đổi qua nhị phân rồi tính tay
  • Thấy cả mặt nạ nghịch đảo, giá trị mà nhiều thiết bị mạng yêu cầu thay vì mặt nạ thường
  • Bảng tra nhanh ngay trên trang giúp ước lượng nên chọn tiền tố nào cho số máy hiện có
  • Kết quả sao chép được thành khối văn bản gọn để dán vào biên bản cấu hình
  • Chạy hoàn toàn trên trình duyệt nên dùng được cả khi đang ở phòng máy chưa có mạng ra ngoài

Cách tính một dải mạng con

  1. 1Nhập địa chỉ IPv4 bất kỳ nằm trong dải bạn quan tâm, không cần phải là địa chỉ mạng.
  2. 2Chọn độ dài tiền tố trong danh sách, đây chính là con số đứng sau dấu gạch chéo trong ký hiệu quen thuộc.
  3. 3Bấm tính toán, nếu địa chỉ có octet vượt quá 255 hoặc sai định dạng thì công cụ báo lỗi ngay.
  4. 4Đọc khối thông tin mạng để lấy dải host dùng được, và khối mặt nạ để lấy giá trị điền vào cấu hình thiết bị.
  5. 5Bấm sao chép để lấy toàn bộ kết quả dưới dạng văn bản, tiện khi ghi vào tài liệu bàn giao hệ thống.

Đọc ký hiệu tiền tố và quy tắc trừ hai địa chỉ

Con số sau dấu gạch chéo cho biết bao nhiêu bit đầu tiên thuộc về phần mạng, phần còn lại trong tổng số 32 bit dành cho host. Tiền tố 24 nghĩa là 24 bit mạng và 8 bit host, cho ra 2 mũ 8 bằng 256 địa chỉ. Nhưng chỉ 254 địa chỉ gán được cho thiết bị, vì hai địa chỉ bị dành riêng: địa chỉ có toàn bit host bằng 0 là địa chỉ mạng dùng để định danh cả dải, và địa chỉ có toàn bit host bằng 1 là địa chỉ quảng bá dùng để gửi tới mọi máy trong dải. Bảng cần thuộc: tiền tố 25 cho 128 địa chỉ với 126 dùng được, tiền tố 26 cho 64 với 62 dùng được, tiền tố 27 cho 32 với 30, tiền tố 28 cho 16 với 14, tiền tố 29 cho 8 với 6, tiền tố 30 cho 4 với 2. Tiền tố 30 rất hay gặp vì nó vừa đủ cho một liên kết nối hai bộ định tuyến. Hai trường hợp đặc biệt: tiền tố 31 chỉ có 2 địa chỉ và theo quy ước dành cho liên kết điểm nối điểm thì cả hai đều dùng được, còn tiền tố 32 chỉ định đúng một địa chỉ đơn lẻ.

Chia một dải lớn thành nhiều mạng con

Giả sử bạn có dải 192.168.1.0 với tiền tố 24 và cần tách thành bốn mạng riêng cho bốn phòng ban. Chia bốn nghĩa là mượn thêm hai bit từ phần host, nên tiền tố mới là 26. Mỗi mạng con khi đó có 64 địa chỉ, trong đó 62 gán được. Bốn dải lần lượt là 192.168.1.0 tới 192.168.1.63, rồi 64 tới 127, rồi 128 tới 191, rồi 192 tới 255. Trong dải đầu tiên, địa chỉ .0 là địa chỉ mạng, .63 là địa chỉ quảng bá, và host dùng được chạy từ .1 tới .62. Quy tắc chung dễ nhớ: mượn thêm một bit thì số mạng con nhân đôi và kích thước mỗi mạng giảm một nửa. Khi thiết kế, hãy tính theo số thiết bị thật cộng thêm dự phòng chứ đừng chọn sát nút, vì mở rộng dải về sau nghĩa là đổi mặt nạ trên toàn bộ thiết bị trong mạng. Một phòng có 40 máy thì tiền tố 26 với 62 chỗ là hợp lý, còn tiền tố 27 với 30 chỗ sẽ thiếu ngay khi có thêm điện thoại và máy in nối mạng.

Mặt nạ nghịch đảo dùng ở đâu

Mặt nạ nghịch đảo là kết quả của việc đảo từng bit của mặt nạ mạng con: chỗ nào mặt nạ có bit 1 thì mặt nạ nghịch đảo có bit 0 và ngược lại. Với tiền tố 24, mặt nạ là 255.255.255.0 còn mặt nạ nghịch đảo là 0.0.0.255. Cách đọc là bit 0 nghĩa là phải khớp còn bit 1 nghĩa là không cần quan tâm. Giá trị này xuất hiện ở hai chỗ quen thuộc với người quản trị mạng. Thứ nhất là trong danh sách kiểm soát truy cập của thiết bị mạng, nơi bạn khai báo dải nguồn hoặc dải đích bằng địa chỉ kèm mặt nạ nghịch đảo thay vì mặt nạ thường. Thứ hai là khi khai báo mạng tham gia giao thức định tuyến động, nhiều dòng thiết bị cũng yêu cầu đúng dạng này. Nhầm giữa hai loại mặt nạ là lỗi kinh điển: gõ 255.255.255.0 vào chỗ cần 0.0.0.255 thì luật gần như không khớp gì cả, và vì thiết bị không báo lỗi cú pháp nên bạn chỉ phát hiện khi lưu lượng bị chặn hoặc lọt sai.

Địa chỉ riêng, địa chỉ công cộng và những dải công cụ chưa nhận diện

Công cụ đánh dấu ba dải là địa chỉ riêng: toàn bộ 10 chấm gì đó, phần từ 172.16 tới 172.31, và toàn bộ 192.168. Đây là các dải dành cho mạng nội bộ, không định tuyến được trên Internet và ai cũng dùng lại được. Dải bắt đầu bằng 127 được đánh dấu là vòng lặp nội bộ, tức lưu lượng không rời khỏi chính máy đó. Có hai dải đặc biệt khác mà công cụ chưa phân loại và sẽ báo là công cộng, bạn nên tự nhận ra. Thứ nhất là dải bắt đầu bằng 169.254: khi máy tính nhận địa chỉ dạng này nghĩa là nó không liên lạc được với máy chủ cấp phát động và đã tự đặt địa chỉ, đây là dấu hiệu hỏng chứ không phải cấu hình đúng. Thứ hai là dải từ 100.64 tới 100.127, dành cho lớp chuyển đổi địa chỉ quy mô nhà mạng; nhiều thuê bao Internet ở Việt Nam nhận địa chỉ thuộc dải này thay vì địa chỉ công cộng thật, và đó chính là lý do việc mở cổng để truy cập camera hay máy chủ tại nhà từ bên ngoài không hoạt động dù bạn cấu hình đúng.

Lớp A, B, C nay chỉ còn giá trị lịch sử

Công cụ hiển thị lớp địa chỉ dựa trên octet đầu tiên: từ 1 tới 126 là lớp A, từ 128 tới 191 là lớp B, từ 192 tới 223 là lớp C, từ 224 tới 239 là lớp D dành cho phát đa hướng và từ 240 trở lên là lớp E dành riêng. Cách phân lớp này ra đời từ những ngày đầu của Internet, khi mỗi lớp gắn cứng với một độ dài phần mạng: lớp A tương ứng tiền tố 8, lớp B tương ứng 16, lớp C tương ứng 24. Cách chia cứng đó gây lãng phí khủng khiếp, vì một tổ chức cần 300 địa chỉ phải nhận cả một dải lớp B với hơn sáu mươi lăm nghìn địa chỉ. Từ đầu thập niên 1990, hệ thống chuyển sang định tuyến liên miền không phân lớp, tức chính là cách dùng tiền tố linh hoạt mà công cụ này áp dụng. Nghĩa là trên mạng thực tế ngày nay, thông tin lớp không quyết định điều gì cả; một dải 10.0.0.0 với tiền tố 24 vẫn hoạt động bình thường dù octet đầu thuộc lớp A. Thông tin này chỉ còn hữu ích khi bạn ôn thi chứng chỉ hoặc đọc tài liệu cũ.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Tiền tố 24 cho bao nhiêu máy dùng được?

254 máy. Tiền tố 24 để lại 8 bit cho phần host nên có 256 địa chỉ, nhưng phải trừ đi địa chỉ mạng ở đầu dải và địa chỉ quảng bá ở cuối dải. Tương tự, tiền tố 25 cho 126 máy, tiền tố 26 cho 62 máy, tiền tố 27 cho 30 máy và tiền tố 28 cho 14 máy.

Vì sao phải trừ hai địa chỉ khỏi tổng?

Vì hai địa chỉ được dành riêng. Địa chỉ có toàn bộ bit phần host bằng 0 là địa chỉ mạng, dùng để định danh cả dải trong bảng định tuyến. Địa chỉ có toàn bộ bit phần host bằng 1 là địa chỉ quảng bá, gửi tới nó là gửi tới mọi máy trong dải. Không thiết bị nào được gán hai địa chỉ này.

Tiền tố 31 và 32 có gì đặc biệt?

Tiền tố 31 chỉ có 2 địa chỉ và theo quy ước cho liên kết điểm nối điểm thì cả hai đều gán được, vì trên một đường nối hai đầu thì không cần địa chỉ quảng bá. Tiền tố 32 chỉ định đúng một địa chỉ đơn, hay dùng khi khai báo một tuyến cụ thể tới một máy hoặc khi gán địa chỉ vòng lặp cho thiết bị.

Mặt nạ nghịch đảo dùng để làm gì?

Dùng trong danh sách kiểm soát truy cập và trong khai báo mạng cho giao thức định tuyến động trên nhiều dòng thiết bị mạng. Nó là kết quả đảo từng bit của mặt nạ thường, ví dụ 255.255.255.0 thành 0.0.0.255. Nhầm hai loại này với nhau là lỗi rất hay gặp và thiết bị không báo cú pháp sai.

Chia một dải tiền tố 24 thành bốn mạng thì làm sao?

Mượn thêm hai bit từ phần host, tức chuyển sang tiền tố 26. Mỗi mạng con có 64 địa chỉ với 62 chỗ dùng được. Với dải 192.168.1.0 thì bốn mạng lần lượt là 0 tới 63, 64 tới 127, 128 tới 191 và 192 tới 255. Quy tắc chung: mượn thêm một bit thì số mạng nhân đôi và kích thước mỗi mạng giảm một nửa.

Địa chỉ bắt đầu bằng 169.254 nghĩa là gì?

Nghĩa là máy không nhận được địa chỉ từ máy chủ cấp phát động nên tự đặt một địa chỉ tạm để liên lạc trong cùng phân đoạn mạng. Đây là dấu hiệu hỏng chứ không phải cấu hình đúng, thường do cáp lỏng, cổng mạng bị tắt hoặc bộ định tuyến ngừng cấp địa chỉ. Công cụ này chưa phân loại riêng dải đó nên sẽ báo là công cộng.

Vì sao địa chỉ công cộng của tôi bắt đầu bằng 100.64?

Vì nhà mạng đang dùng lớp chuyển đổi địa chỉ quy mô lớn, nghĩa là bạn không có địa chỉ công cộng thật mà chia sẻ chung với nhiều thuê bao khác. Đây là lý do việc mở cổng để truy cập camera hay máy chủ tại nhà từ bên ngoài không hoạt động. Muốn khắc phục phải yêu cầu nhà mạng cấp địa chỉ công cộng, thường là dịch vụ tính phí.

Lớp A, B, C còn quan trọng không?

Không, trên mạng thực tế ngày nay thì không. Từ đầu thập niên 1990 hệ thống đã chuyển sang định tuyến liên miền không phân lớp, tức dùng tiền tố linh hoạt. Thông tin lớp chỉ còn giá trị khi bạn ôn thi chứng chỉ hoặc đọc tài liệu cũ, còn khi thiết kế mạng thì bạn chọn tiền tố theo số thiết bị thật.

Nên chọn tiền tố nào cho một văn phòng 40 máy?

Tiền tố 26 với 62 chỗ dùng được là lựa chọn hợp lý. Đừng chọn tiền tố 27 chỉ vì 30 chỗ nghe có vẻ vừa, bởi ngoài máy tính còn có điện thoại nội bộ, máy in, camera, điểm phát sóng và các thiết bị khách. Mở rộng dải về sau đồng nghĩa phải đổi mặt nạ trên toàn bộ thiết bị nên hãy chừa dự phòng ngay từ đầu.

Công cụ có tính được IPv6 không?

Không, công cụ chỉ làm việc với IPv4. Địa chỉ IPv6 dài 128 bit và có cách viết cùng cách chia mạng khác hẳn, chẳng hạn dải cấp cho một thuê bao thường là tiền tố 56 hoặc 48 và mỗi mạng con dùng tiền tố 64. Bạn cần công cụ chuyên cho IPv6.

Địa chỉ cổng ra nên đặt ở đầu hay cuối dải?

Cả hai đều được, miễn là nhất quán trong toàn hệ thống. Thói quen phổ biến là đặt ở host đầu tiên, ví dụ .1 với dải tiền tố 24, vì dễ nhớ và dễ đoán khi xử lý sự cố. Một số nơi lại đặt ở host cuối để dành phần đầu dải cho máy chủ. Điều quan trọng là ghi lại quy ước trong tài liệu mạng.

Vì sao hai máy cùng dải mà không thấy nhau?

Nguyên nhân hay gặp nhất là mặt nạ đặt khác nhau, khiến hai máy hiểu dải mạng theo hai kích thước khác nhau. Hãy nhập địa chỉ của từng máy kèm tiền tố nó đang dùng vào công cụ và so hai địa chỉ mạng thu được: nếu khác nhau thì đó chính là nguyên nhân, chứ không phải lỗi cáp hay tường lửa.

Từ khóa liên quan

  • tính subnet online
  • chia mạng con ipv4
  • subnet mask là gì
  • cidr là gì
  • tính địa chỉ mạng và broadcast
  • bảng tra subnet mask
  • 255.255.255.0 là bao nhiêu host
  • tiền tố /26 bao nhiêu máy
  • wildcard mask là gì
  • dải ip private 192.168
  • dải ip 10.0.0.0/8
  • địa chỉ 169.254 là gì
  • cgnat 100.64 là gì
  • lớp a lớp b lớp c ip
  • tính dải ip cho văn phòng
  • chia vlan theo subnet
  • cấu hình dhcp pool
  • địa chỉ broadcast là gì
  • subnet /30 point to point
  • công cụ tính subnet miễn phí

Công cụ Developer Tools liên quan

.env Generator

Tạo file .env và .env.example cho dự án.

.gitignore Generator

Tạo .gitignore cho Node.js, Python, Java.

API Mock Generator

Tạo mock JSON data cho API testing.

API Response Formatter

Format và phân tích API response.

API Tester

Test REST API: GET, POST, PUT, DELETE.

Postman Alternative - API Testing Tool Online với Collections, Environment & File Upload

Postman Alternative miễn phí - Test APIs với Collections, Multiple Environments, Pre-request Scripts, Collection Runner, File Upload (form-data), Tests/Assertions, Code Generation (cURL, JS, Python, Node.js). Browser-based, không cần cài đặt. Save requests, export/import collections, auto-save history. Hỗ trợ Bearer Token, Basic Auth, API Key. Hoàn hảo cho API development và testing.

Swagger API Tester - Test API với OpenAPI/Swagger Spec & Authentication Online

Swagger API Tester miễn phí - Import OpenAPI/Swagger specification và test API endpoints với đầy đủ authentication (Bearer Token/JWT, Basic Auth, API Key). Hỗ trợ OpenAPI 3.0, Swagger 2.0, auto-parse endpoints, parameters, request body. Giao diện như Swagger UI với color-coded methods, grouped endpoints, real-time testing. Hoàn hảo cho API development, testing, debugging secured APIs.

Base Converter

Chuyển đổi Binary, Hex, Base32.

Base64 Encoder

Mã hóa/giải mã Base64.

Binary Converter

Chuyển đổi Decimal, Binary, Hex.

Box Shadow Generator

Tạo CSS box-shadow trực quan.

Chmod Calculator

Tính quyền file Linux.

Dịch vụ của Tấn Phát Digital

Đang xây sản phẩm và cần thêm người làm phần nặng?

Gói giải pháp doanh nghiệp

Nền tảng custom cho ngân hàng, y tế và sàn B2B, chuẩn ISO 27001, GDPR, PCI-DSS, SLA 99.99%.

Từ 50.000.000đXem chi tiết →

Dịch vụ phát triển Blockchain & Web3

Smart contract, dApp và NFT marketplace đa chuỗi, audit bảo mật đầy đủ trước khi lên mainnet.

Từ 50.000.000đXem chi tiết →

Dịch vụ thiết kế website tại Hồ Chí Minh

Website doanh nghiệp, bán hàng và đặt lịch, chuẩn SEO ngay từ cấu trúc, tốc độ tải dưới 3 giây.

Từ 5.000.000đXem chi tiết →

Dịch vụ thiết kế landing page

Trang đích riêng cho từng chiến dịch quảng cáo, tỷ lệ chuyển đổi 3–8%, bàn giao trong 5–21 ngày.

Từ 3.000.000đXem chi tiết →

Tư vấn và báo giá miễn phí trong 24 giờ. Xem toàn bộ dịch vụ

Zalo
Facebook
Tấn Phát Digital
Zalo
Facebook